- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn giữa chị La Phương Th và anh Trần Kim T"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 207; Điều 227; Điều 228; Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 99/2023/ST-HNGĐ Ngày 19/7/2023 “V/v Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG - TỈNH NGHỆ AN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lữ Thị Dung
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Thanh Hiền; Ông Nguyễn Văn Hào
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Lê - Thư ký Toà án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 7 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 67/2023/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2023 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28 /2023/QĐXX-ST, ngày 30 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị La Phƣơng Th - sinh năm 2000 – có mặt.
- Bị đơn: Anh Trần Kim T - sinh năm 1992 - vắng mặt.
Đều có đỉa chỉ: Bản B, xã M, huyện C, N.
- Ngƣời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn:
Ông Phạm Thế Kỷ - Trợ giúp viên thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà
nước tỉnh nghệ An. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa chị La Phương Th trình bày: Chị La Phương Th và anh Trần Kim T kết hôn vào ngày 19/11/2018, đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện C, tỉnh N, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc đến năm 2020 thì bắt đầu xẩy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp nhau, vợ chồng thường xuyên bất đồng, cãi vã, xúc phạm lẫn nhau, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mặc dù đã được gia đình hai bên nội ngoại hòa giải nhiều lần và hai vợ chồng đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng cuộc sống có quá nhiều mâu thuẫn. Chị Th bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống và ly thân với anh T từ năm 2022 cho đến nay không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, tình cảm vợ chồng không còn nên chị La Phương Th làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Kim T.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng chị có 01 người con chung Trần Kim Bảo A, sinh ngày 20/11/2018. Nếu ly hôn chị Th có nguyện vọng trực tiếp nuôi con chung và không yều cầu anh Trần Kim T phải cấp dưỡng tiền nuôi con.
Về tài sản chung: Chị La Phương Th không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Vợ chồng chị không nợ tổ chức, cá nhân nào và cũng không ai nợ vợ chồng chị .
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm anh Trần Kim T đều vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập nhiều lần nên Tòa án không thể tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định tại Điều 204; 207; 208 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Về tình cảm: Chị La Phương Th và anh Trần Kim T đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện C trên cơ sở tự nguyện, đảm bảo các điều kiện về kết hôn. Tuy nhiên trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, vợ chồng sống ly thân đã lâu không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được đề nghị HĐXX chấp nhận đơn khởi kiện cho chị La Phương Th được ly hôn với anh Trần Kim T; Về con chung: Do hiện nay anh T không có mặt ở địa phương, việc giao con cho anh T nuôi dưỡng là không đảm bảo điều kiện về mọi mặt của con, cháu Bảo A đang còn nhỏ cần sự chăm sóc nuôi dưỡng của người mẹ nên đề nghị HĐXX xem xét giao con chung cho chị La Phương Th trực tiếp nuôi dưỡng; Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung của vợ chồng chị Th không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông phát biểu ý kiến theo quy định tại Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự như sau:
- Về tố tụng:
+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
+ Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng; nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn ly hôn của chị La Phương Th. Buộc chị La Phương Th và anh Trần Kim T chấm dứt quan hệ hôn nhân kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật; Về con chung: Giao con chung Trần Kim Bảo A, sinh ngày 20/11/2018 cho chị La Phương Th trực tiếp nuôi dưỡng; Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung của vợ chồng chị Th không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét; Về án phí chị Th phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình, bị đơn hiện cư trú tại bản B, xã M, huyện C, tỉnh N nên Tòa án nhân dân huyện Con Cuông thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Qua xác minh tình trạng hôn nhân của chị La Phương Th và anh Trần Kim T tại UBND xã M, huyện C cho biết, sau khi đăng ký kết hôn chị Th và anh T sinh sống tại bản B, xã M, huyện C, tỉnh N, hiện tại anh T không có mặt ở địa phương đi đâu chính quyền, địa phương không biết, anh T thỉnh thoảng mới về nhà, anh T không khai báo cắt khẩu tạm trú, tạm vắng.Tại biên bản lấy lời khai bà Lê Thị V – sinh năm 1967, Trú tại bản B, xã M, huyện C là mẹ đẻ của anh Trần Kim T cho biết, sau khi anh T và chị Th kết hôn thì sinh sống cùng gia đình bà V đến năm 2021 thì hai vợ chồng đi làm ăn ở tỉnh B và phát sinh mâu thuẫn, hiện tại anh T đang đi làm công nhân ở các tỉnh M và liên lạc với bà V thường xuyên, còn địa chỉ cụ thể thì bà không biết, bà V cho biết anh T nhất trí ly hôn nhưng không về, bà V mặc dù đã được nghe đọc lại biên bản lấy lời khai, bà V xác nhận lời khai của bà là đúng sự thật nhưng không ký vào biên bản, cũng không nhận các văn bản tố tụng của Tòa án đến tống đạt cho anh T nên Tòa án tiến hành niêm yết công khai các văn bản tố tụng tại thôn bản nơi anh T cư trú và tại trụ sở UBND xã M theo đúng quy định pháp luật.
Như vậy, bị đơn đã thay đổi nơi cư trú nhưng không thông báo cho người khởi kiện biết về nơi cư trú mới. Theo quy định tại Điều 40; điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự thì được coi là cố tình che giấu địa chỉ nên Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tụng chung là phù hợp với hướng dẫn tại điểm a khoản 2 Điều 6 nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Trần Kim T đã được Tòa án niêm yết hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập để trình bày ý kiến; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh Trần Kim T theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Trần Kim T không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện nên Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn đã giao nộp và Tòa án thu thập được để giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 96 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Xét thấy chị La Phương Th và anh Trần Kim T đăng ký kết hôn vào ngày 19/11/2018, đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện C, tỉnh N, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm quy định về điều kiện và thủ tục kết hôn theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị La Phương Thảo và anh Trần Kim T là hợp pháp.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chị Th, anh T phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân với nhau từ năm 2022 cho đến nay, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, như vậy chị Th và anh T đã vi phạm tình nghĩa vợ chồng.
Tại phiên tòa anh Trần Kim T vắng mặt không có ý kiến trình bày nhưng qua xác minh tại địa phương cho biết: Quá trình kết hôn và chung sống vợ chồng chị Th và anh T có nhiều mâu thuẫn, chị Th bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống và ly thân với anh T từ năm 2022 cho đến nay không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, hiện tại anh T không có mặt ở địa phương đi đâu chính quyền, địa phương không biết vì anh T không khai báo cắt khẩu tạm trú, tạm vắng. Xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị La Phương Th và anh Trần Kim T không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn khởi kiện, cho chị La Phương Th được ly hôn với anh Trần Kim T.
Về con chung: Vợ chồng chị La Phương Th và anh Trần Kim T có 01 người con chung Trần Kim Bảo A, sinh ngày 20/11/2018. Nếu ly hôn chị Th có nguyện vọng trực tiếp nuôi con chung và không yều cầu anh Trần Kim T phải cấp dưỡng tiền nuôi con. Do hiện nay anh T không có mặt ở địa phương, việc giao con cho anh Tuyến nuôi dưỡng là không đảm bảo điều kiện về mọi mặt của con. Xét thấy nguyện vọng của chị La Phương Th là chính đáng, hiện tại con đang còn nhỏ để đảm bảo quyền lợi của con nên xét giao con chung cho chị La Phương Th trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi tròn 18 tuổi,trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con do chị Th không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Chị La Phương Th và anh Trần Kim T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên căn cứ vào khoản 1 Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị La Phương Th phải nộp án phí ly hôn theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 207; Điều 227; Điều 228; Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị La Phương Th, cho chị La Phương Th được ly hôn với anh Trần Kim T. Chị La Phương Th và anh Trần Kim T chấm dứt quan hệ hôn nhân kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Giao con chung Trần Kim Bảo A, sinh ngày 20/11/2018, cho chị La Phương Th trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi tròn 18 tuổi, trưởng thành.
Anh Trần Kim T có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở, vì lợi ích mọi mặt của con khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi cấp dưỡng nuôi con hoặc người trực tiếp nuôi con. Chị La Phương Th cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về án phí: Áp dụng khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, chị La Phương Th phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị Th đã nộp 300.000 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An theo biên lai thu tiền số 0000902 ngày 12/5/2023.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh NA; - VKSND huyện Con Cuông; - Chi cục THADS huyện Con Cuông; - Nguyên đơn, bị đơn; - UBND xã Môn Sơn - Lưu hồ sơ -VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Lữ Thị Dung |