- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn Thông “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 249…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN GIANG TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 99/2023/HSST Ngày: 24/8/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN GIANG, TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Vũ Thu Giang.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Doanh và ông Lê Hải Dương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thoa - Thư ký TAND huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện VKSND huyện Văn Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hảo - Kiểm sát viên.
Ngày 24/8/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 86/2023/TLST-HS ngày 13/7/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2023/QĐXXST-HS ngày 10/8/2023, đối với bị cáo:
Lò Văn T; sinh năm: 2001. Giới tính: Nam. HKTT: Bản Chăn, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Lò Văn T1, sinh năm 1980; Nghề nghiệp: làm ruộng. Con bà: Quàng Thị D, sinh năm:1981; Nghề nghiệp: làm ruộng. Anh chị em ruột: có 2 người, bị cáo là lớn; Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Chưa có. T bị tạm giữ từ ngày 30/3/2023 đến ngày 01/4/2023 thì chuyển tạm giam, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam của Công an tỉnh H. Theo Lệnh trích xuất có mặt tại phiên tòa.
*Người làm chứng:
Ông Vũ Văn Â, sinh năm 1954 (vắng mặt).
Địa chỉ: thôn T, N, V, Hưng Yên
NỘI DUNG VỤ ÁN
ơ
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 15 phút ngày 30/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V phối hợp với Công an xã N, huyện V, tiến hành tuần tra tại khu vực nghĩa trang thôn T, xã N, huyện V phát hiện Lò Văn T, sinh năm 2001, HKTT: Bản Chăn, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên có biểu hiện nghi vấn; nên đã tiến hành kiểm tra thu giữ tại lòng bàn tay trái của T 01 gói giấy màu trắng, bên ngoài in chữ có dòng kẻ màu đỏ, bên trong có 07 gói nilon màu đỏ, kích thước không đồng đều, bên trong các gói nilon đều chứa chất màu trắng dạng cục và bột nghi là ma túy, T khai là Heroine mua để sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong toàn bộ số vật chứng nói trên trong phong bì ký hiệu TH1.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã đưa T đến Trung tâm y tế huyện V để xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể và Quyết định trưng cầu giám định đối với chất đã thu giữ của T trong niêm phong có kí hiệu TH1. Kết quả xét nghiệm xác định: Lò Văn T dương tính với ma túy (MOP).
Tại bản kết luận giám định số 190/KL-KTHS(MT) ngày 02/04/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H xác định: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ghi ký hiệu TH1, có tổng khối lượng 0,192g là ma túy, loại Heroine.
Quá trình điều tra T khai nhận: T không có việc làm ổn định, sống lang thang trên địa bàn xã N và thường xuyên sử dụng chất ma túy, loại Heroine. Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 30/3/2023, T đi bộ một mình từ thôn P, xã N đến khu vực Chợ mới, xã N trên đường Đ gặp 01 người thanh niên không rõ nhân thân, lai lịch cụ thể, đi xe máy (nhưng T không nhớ đặc điểm và biển số xe), biết người này có bán ma túy, T đã hỏi mua ma túy của người thanh niên này với số tiền là 500.000đ để sử dụng dần. T đưa tiền cho người thanh niên nói trên, người thanh niên đưa cho T 01 bọc giấy, bên ngoài có chữ và dòng kẻ màu đỏ. Thông kiểm tra bên trong có 07 gói nilon màu đỏ, kích thước khác nhau, trong các gói nilon đều chứa chất màu trắng dạng cục và bột là ma túy loại Heroin. T cầm ma túy trong lòng bàn tay trái đi vào bên trong nghĩa trang T2 lấy một ít để sử dụng, số ma túy còn lại T cầm ở lòng bàn tay trái, thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang như nêu ở trên.
Ngày 26/6/2023, Công an huyện V đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lò Văn T về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 30/3/2023 tại thôn T, xã N.
Còn đối với người đã bán chất ma tuý cho T, do không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ để Cơ quan điều tra xác minh, xử lý.
Tại bản cáo trạng số: 93/CT-VKSVG ngày 13/7/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên đã truy tố Lò Văn Thông về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay:
- Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố, tỏ thái độ ăn năn, hối cải, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và xin được miễn án phí.
- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố như bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 điều 51; Điều 38, Điểm a, b khoản 1 điều 46, điểm b, c khoản 1 điều 47 của Bộ luật hình sự. Khoản 1; khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử phạt Lò Văn T từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 30/3/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật gửi giám định số 190/KL-KTHS(MT) ngày 02/4/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H, bên trong có 0,181g ma túy, loại Heroine, trong niêm phong ghi ký hiệu TH1; 01 mảnh giấy, các mảnh nilon màu đỏ, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- Bị cáo nhất trí không tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật và rất hối hận, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng:
- Cơ quan điều tra, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân và kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện. Hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đều đảm bảo đúng pháp luật.
- Người làm chứng vắng mặt không có lý do, bị cáo và đại diện Viện kiểm sát đề nghị xét xử vụ án vắng mặt họ. Xét thấy người làm chứng vắng mặt nhưng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án nên HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục xét xử vụ án.
. Về hành vi phạm tội:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định, lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 30/3/2023, tại khu vực Nghĩa trang của thôn T, xã N, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V phối hợp với Công an xã N, huyện V phát hiện, bắt quả tang Lò Văn T đang cất giấu trái phép trên người 0,192g ma tuý, loại Heroin. Mục đích của T cất giấu số ma tuý trên là để sử dụng.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi cất giữ ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật nhưng do thường xuyên sử dụng ma túy nên vẫn cố ý thực hiện. Hành vi này của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang truy tố bị cáo về tội danh và điều luật theo bản Cáo trạng là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước đối với các chất ma túy. Hành vi của bị cáo còn huỷ hoại sức khoẻ, trí lực của chính bị cáo, phá hoại kinh tế, hạnh phúc gia đình cũng như làm phát sinh các loại tội phạm khác. Chỉ vì để thoả mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân bị cáo bất chấp tác hại của ma tuý, coi thường pháp luật, cố ý tàng trữ để sử dụng nên cần xử lý bị cáo bằng một bản án thật nghiêm.
Đối với đối tượng đã bán ma túy cho T, Cơ quan điều tra Công an huyện V đã điều tra nhưng không xác định được nhân thân, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý.
Hành vi ngày 30/3/2023 T sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 26/6/2023, Công an huyện V đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T là chính xác nên không đặt ra xem xét.
. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:
Về nhân thân: Bị cáo là đối tượng thường xuyên sử dụng chất ma túy, chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Gia đình bị cáo có giao nộp tài liệu là bản phô tô huân chương của ông nội bị cáo là Lò Văn H2, tuy nhiên không phải do Nhà nước phong tặng nên không có căn cứ cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. HĐXX xét thấy, cần xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, có như vậy mới đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, cũng như góp phần phòng ngừa tội phạm chung.
.Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, thuộc hộ cận nghèo, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật gửi giám định số 190/KL-KTHS(MT) ngày 02/4/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H, bên trong có 0,181g ma túy, loại Heroine, trong niêm phong ghi ký hiệu TH1; 01 mảnh giấy, các mảnh nilon màu đỏ, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định là chất Nhà nước cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng nên sẽ tịch thu cho tiêu hủy.
. Về án phí: Bị cáo có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Xét bị cáo là người dân tộc thiểu số, thuộc hộ cận nghèo; bị cáo xin được miễn nộp án phí nên theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án sẽ miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
2. Căn cứ :
- Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 điều 51; Điều 38; Điểm a khoản 1 điều 46; Điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự.
- Khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Khoản 1 điều 293; Điều 299; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
3. Xử phạt bị cáo Lò Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 30/3/2023.
4. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật gửi giám định số 190/KL-KTHS(MT) ngày 02/4/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H, bên trong có 0,181g ma túy, loại Heroine, trong niêm phong ghi ký hiệu TH1; 01 mảnh giấy, các mảnh nilon màu đỏ, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.
(Tình trạng số lượng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/7/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V và Chi cục thi hành án dân sự huyện Văn Giang)
5. Về án phí: Miễn án phí hính sự sơ thẩm cho bị cáo.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV&THA-TAND tỉnh Hưng Yên - VKSND tỉnh Hưng Yên - CA huyện Văn Giang - VKS huyện Văn Giang - Chi cục THADS huyện Văn Giang - UBND xã Quài Nưa, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên - Bị cáo - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Vũ Thu Giang |