- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Hiệp phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
- Tòa quyết gì? Về hình sự: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ D TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 99/2023/HSST Ngày 22 – 11- 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ D, TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mạnh Xuân Hải.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đức Liên và ông Nguyễn Văn Hoằng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Khánh Vy – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã D, tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã D tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Hoa – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2023, tại Tòa án nhân dân thị xã D, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 93/2023/TLST – HS ngày 17 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102/2023/QĐXXST ngày 10 tháng 11 năm 2023 đối với:
1 - Bị cáo: Nguyễn Văn H, sinh năm 1995; tên gọi khác: Không; nơi cư trú: Thôn M, xã Y, thị xã D, tỉnh Hà Nam; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 5/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên Chúa; con ông Nguyễn Văn N (đã chết) và bà Nguyễn Thị Nh, sinh năm 1966; vợ: Lê Thị Ch, sinh năm 1977; con: 01 con sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không. Tạm giữ: Từ ngày 27/8/2023 đến ngày 02/9/2023 chuyển sang tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam. Có mặt.
2 - Người chứng kiến: Anh Nguyễn Tuấn A. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 9h30' ngày 27/8/2023, Tổ công tác thuộc Công an thị xã D phối hợp với Công an xã Y, thị xã D tiến hành tuần tra bảo đảm an ninh trật tự tại địa bàn xã Y, thị xã D phát hiện Nguyễn Văn H, sinh năm 1995, trú tại thôn M, xã Y, thị xã D, tỉnh Hà Nam có hành vi cất giấu trong túi quần phía trước bên phải đang mặc 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong gói giấy có chứa chất màu trắng dạng cục bột (H khai là ma túy Heroine, mua để sử dụng). Tổ công tác tiến hành lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong toàn bộ vật chứng có liên quan và đưa H về trụ sở Công an xã Y làm việc.
Vật chứng thu giữ gồm: Thu của Nguyễn Văn H 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long, bên trong vỏ bao có 01 gói giấy bạc màu trắng có KT khoảng (2x1,5)cm,, bên trong có chứa chất màu trắng dạng cục bột, được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01; thu trong túi quần phía trước bên phải của H đang mặc 01 điện thoại Nokia màu đen, được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT02.
Tại bản kết luận giám định số 587/KL – KTHS ngày 31/8/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam, kết luận: Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phòng bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,120g, loại Heroine.
Về nguồn gốc ma túy: Bị cáo Nguyễn Văn H khai báo do bản thân mắc nghiện ma túy nên khoảng 08h ngày 27/8/2023, H đi nhờ xe của một người đi đường ra khu vực cầu S thuộc xã Y, thị xã D tìm mua ma túy sử dụng. Tại đây, H gặp bạn nghiện tên là T (H khai không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này) nhà ở khu vực thôn Đ, xã L, huyện L1. Do đã từng cùng nhau đi mua ma túy và biết T biết chỗ mua ma túy nên H rủ T góp tiền để mua ma túy, T đồng ý. Sau đó, H đưa cho T 100.000đ để T mua ma túy. T cầm tiền của H và chở H đi xuống khu vực Đ1 thuộc xã T1, thị xã D để mua ma túy. Tại đây, T bảo H đứng đợi để T đi mua. Khoảng 15 phút sau T quay lại đưa cho H vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long, bên trong có 01 gói giấy bạc màu trắng chứa chất màu trắng dạng cục bột, H cất vào túi quần rồi lên xe T chở về tìm chỗ sử dụng. Khi đến chợ S thuộc thôn S, xã Y, thị xã D, tỉnh Hà Nam thì T bảo H đứng chờ T đi vào chợ mua đồ. H đứng chờ khoảng 10 phút thì bị lực lượng Công an kiểm tra. H đã chủ động lấy trong túi quần ra vỏ bao thuốc lá Thăng Long bên trong có chất bột màu trắng chưa kịp sử dụng giao nộp cho lực lượng Công an. Lực lượng Công an đã lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật và đưa H về trụ sở Công an xã Y làm việc.
Cáo trạng số 98/CT – VKS – DT ngày 17 tháng 10 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thị xã D truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố: Nguyễn Văn H phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt: Nguyễn Văn H mức án từ 15 (Mười lăm) tháng đến 18 (Mười tám) tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đưa ra quan điểm về xử lý vật chứng và án phí của vụ án.
Trong phần tranh luận và lời nói sau cùng, bị cáo chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ tội và không tranh luận gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sơ nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, HĐXX xác định các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh, tính chất, mức độ tội phạm: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. HĐXX có đủ cơ sở kết luận:
Hồi 9h30' ngày 27/8/2023, tại địa phận thôn S, xã Y, thị xã D, tỉnh Hà Nam, Nguyễn Văn H có hành vi cất giữ trái phép 0,120g, loại Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Tổ công tác của Công an xã Y, thị xã D kiểm tra, phát hiện lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ tòa bộ vật chứng có liên quan.
Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn H đã gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Hành vi đó đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã D, tỉnh Hà Nam đã truy tố bị cáo với tội danh và điều luật như trên là hoàn toàn có căn cứ pháp lý.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn H không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS nào theo Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Qua quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo “Thành khẩn khai báo” nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt:
Hình phạt chính: Xét hậu quả hành vi phạm tội do bị cáo gây ra cho xã hội là nghiêm trọng, tuy nhiên khối lượng ma túy mà bị cáo tàng trữ chỉ trên mức khởi điểm của điều luật nên cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian phù hợp đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và tác dụng phòng ngừa chung.
Hình phạt bổ sung: Do bị cáo là người không có nghề nghiệp, thu nhập nên HĐXX miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về nguồn gốc ma túy: Nguyễn Văn H khai đã góp tiền chung với một người thanh niên tên T để đi mua ma túy Heroine ở địa bàn thôn Đ1, xã T1, thị xã D, tỉnh Hà Nam. Cơ quan CSĐT Công an thị xã D, tỉnh Hà Nam đã tiến hành xác minh, rà soát camera tại xã Y, thị xã D, tỉnh Hà Nam và thôn Đ, xã L, huyện L1, tỉnh Hà Nam không có người đàn ông nào có đặc điểm như H khai nên không xác định được thanh niên đó là ai, ở đâu do đó không có căn cứ điều tra xử lý đối với người này là đúng với quy định của pháp luật.
Về xử lý vật chứng vụ án:
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu xanh, bên trong máy có lắp pin và sim điện thoại, có số IMEI1: 350078318177138, số IMEI2: 350078319177137 là tài sản hợp pháp của Nguyễn Văn H không liên quan đến vụ án nên trả lại cho H.
Đối với 01 phòng bì niêm phong có số 587/KL – KTHS là mẫu vật hoàn trả sau giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam. Qua đấu tranh xác định đây là mẫu vật hoàn trả sau giám định ma túy, thuộc vật cấm lưu hành nên HĐXX cần tịch thu cho tiêu hủy.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Về hình sự: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/8/2023.
2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Tịch thu cho tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong có số 587/KL – KTHS.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu xanh, bên trong máy có lắp pin và sim điện thoại, có số IMEI1: 350078318177138, số IMEI2: 350078319177137.
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thị xã D và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã D ngày 19/10/2023)
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; - Cơ quan CSĐT Công an thị xã D; - VKSND thị xã D; - Chi cục THADS thị xã D; - Cơ quan THAHS Công an tx D; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam; - Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mạnh Xuân Hải |