vanban.org

Bản án 99/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Bến Cát, tỉnh Bình Dương Tuyên án 01/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang S phạm tội “Vô ý làm chết người”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang S 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Quang S cho Ủy ban nhân dân xã An Điền, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quang Sơn - phạm tội vô ý làm chết người (điều 128 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang S phạm tội “Vô ý làm chết người”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 128 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BẾN CÁT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 99/2023/HS-ST
Ngày 01/6/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Hoàng An.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Văn Đặng.

Bà Trần Thị Ngọc Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Phương - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 6 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 87/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2023/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Quang S, sinh năm 1997, tại Thành phố Hà Nội; hộ khẩu thường trú: Số ½ căn 124 nhà A11, khu tập thể T, phường T, Quận H, Thành phố Hà Nội; tạm trú: Ấp A, xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; cha là Nguyễn Tiến P, sinh năm 1961 và mẹ (không rõ); tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 10/10/2022 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông Mã Tấn N, sinh năm 1982 (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại:

1. Ông Mã Hữu M, sinh năm 1950 – Là cha ruột.

2. Bà Lương Thị S, sinh năm 1955 – Là mẹ ruột.

Cùng hộ khẩu thường trú: Ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương – có yêu cầu xét xử vắng mặt.

3. Bà Phạm Thị Như P, sinh năm 1983 – Là vợ.

Hộ khẩu thường trú: Thôn 3, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông.

Trú tại: Ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương – có yêu cầu xét xử vắng mặt.

Bị đơn dân sự: Công ty TNHH W.

Địa chỉ: Ấp A, xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp: Bà Trần Thị Oanh O, sinh năm 1968.

Địa chỉ: Ấp A, xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương (theo Văn bản ủy quyền ngày 10/5/2023) – có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Quang S và Mã Tấn N là công nhân của Công ty TNHH W. Trưa ngày 07/6/2022, S được Công ty phân công điều khiển xe nâng hàng nhãn hiệu Hangcha để vận chuyển các bao cát thạch anh từ xe container đầu kéo biển số 51C-728.37 đỗ bên hông cửa số 03 vào xưởng sản xuất số 02 của Công ty TNHH W để sản xuất đá hoa cương. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, S đang điều khiển xe nâng chạy từ trong xưởng số 02 ra cửa số 03 để chạy đến chỗ xe container nâng hàng vào kho, do không giảm tốc độ, không chú ý quan sát xe chạy trên đường nội bộ phía trước cửa số 03 nên hai càng của xe nâng do S điều khiển đã đâm trúng vào ngực của ông N đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exiter, biển số 61K-228.11 chạy trên đường nội bộ của Công ty từ cổng Công ty vào làm ông N bị thương nặng. Ngay sau đó, S và một số công nhân của Công ty đưa N đến Bệnh viện đa khoa Mỹ Phước cấp cứu nhưng ông N đã tử vong.

Theo Biên bản khám nghiệm hiện trường:

- Hiện trường là đường nội bộ trong Công ty TNHH W.

- Đường xảy ra tai nạn là đường bê tông trải dài theo hướng từ ngoài cổng chính vào, đường rộng 8,50m; đoạn cuối của đường bê tông nối vào đoạn đường bê tông khác trong Công ty tạo thành khu vực ngã ba.

- Từ khu vực cửa số 03 của xưởng chứa sản phẩm có xe đầu kéo biển số 51C-728.37 kéo theo rơmooc biển số 51R-246.11 đang đỗ trên đường bê tông, cách cửa số 03 là 04m.

- Phía trước của xe đầu kéo biển số 51C-728.37 có xe nâng hàng loại 3,5 tấn, màu đỏ đen, phần đầu xe nâng quay về hướng ra cổng chính Công ty; bánh trước bên phải của xe nâng hàng cách mép lề đường bê tông ở bên phải là 4,70m; bánh trước bên trái cách mép đường là 4,10m; đuôi xe nâng hàng cách cửa số 03 của nhà kho là 04m; xe có hai càng nâng dài 1,25m; hai càng cách nhau 55cm, trên đầu mũi càng số 02 (theo hướng từ ngoài cổng vào) có dính chất màu đỏ đã khô.

- Phía trước đầu xe nâng hàng có vết màu nâu đỏ dạng chảy đã khô cách mép đường bê tông ở bên phải là 1,8m. Phía trước đầu xe nâng hàng có một xe mô tô màu đỏ đen biển số 61K-228.11 ngã trên đường bê tông. Xe mô tô ngã về hướng bên phải theo chiều xe chạy; bánh trước xe mô tô cách mép đường bê tông ở phía bên phải 6,30m còn bánh sau cách 6m. Phía sau xe mô tô có một vết cày trên mặt đường bê tông dài 3,5m.

Theo Kết luận giám định pháp y tử thi số 588/GĐPY ngày 15/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Vùng ngực có vết chà sát da, hằn tụ máu, rách da.

- Gãy nhiều xương sườn.

- Dập rách phổi phải, dập phổi trái.

- Rách tĩnh mạch chủ dưới, rách nhĩ phải.

- Khoang màng phổi phải chứa khoảng 2.000ml máu.

2. Nguyên nhân chết của Mã Tấn N là do đa chấn thương.

* Vật chứng thu giữ:

- Một xe mô tô biển số 61K-228.11

- Một xe nâng hàng nhãn hiệu Hangcha.

Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Quang S đã tự nguyện bồi thường cho ông Mã Hữu M và bà Lương Thị S là cha mẹ ruột của ông N số tiền 280.500.000 đồng, bồi thường cho bà Phạm Thị Như P là vợ ông N số tiền là 65.000.000 đồng. Ông M, bà S và bà P không yêu cầu bồi thường gì thêm và có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho S.

Về vật chứng: Ngày 30/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát xử lý vật chứng giao trả một xe nâng hàng nhãn hiệu Hangcha cho bà Trần Thị Oanh O là người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH W. Ngày 21/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát xử lý vật chứng giao trả một xe mô tô biển số 61K-228.11 cho bà Mã Thị Thanh D là người đại diện hợp pháp của ông M, bà S tại giai đoạn điều tra.

Quá trình điều tra, Nguyễn Quang S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án. S khai: Khi điều khiển xe nâng hàng từ trong xưởng số 02 ra cửa số 03 thì do không chú ý quan sát nên đã gây tai nạn làm chết ông Mã Tấn N.

Tại bản Cáo trạng số 109/CT-VKSBC ngày 27 tháng 4 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo về tội “Vô ý làm chết người” theo khoản 1 Điều 128 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội có nội dung vẫn giữ nguyên quyết định Cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 128; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang S mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, cho hưởng án treo.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị đơn dân sự không có ý kiến gì về quyết định truy tố và bản luận tội của Viện Kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Bến Cát, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị đơn dân sự không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản Cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, bị đơn dân sự và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập tại hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 07/6/2022, bị cáo điều khiển xe nâng chạy từ trong xưởng số 02 ra cửa số 03 trong đường nội bộ của Công ty TNHH W không giảm tốc độ, không chú ý quan sát nên hai càng của xe nâng đã đâm trúng vào ngực của ông N đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exiter, biển số 61K-228.11 chạy trên đường nội bộ của Công ty từ cổng Công ty vào làm ông N bị thương nặng sau đó tử vong.

Bị cáo được cấp Chứng chỉ đào tạo lái xe nâng ngày 14/4/2022. Tuy nhiên bị cáo lại quá tự tin, chủ quan, không lường trước hậu quả xảy ra nên điều khiển xe nâng đi trong đường nội bộ Công ty nhưng không giảm tốc độ, không chú ý quan sát, làm hai càng của xe nâng đâm vào ngực làm ông N khiến ông tử vong.

Theo Kết luận giám định pháp y tử thi số 588/GĐPY ngày 15/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận: Nguyên nhân chết của ông N là do đa chấn thương.

Như vậy, Cáo trạng số 109/CT-VKSBC ngày 27 tháng 4 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo về tội “Vô ý làm chết người” theo khoản 1 Điều 128 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn lao động, đồng thời xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ nên cần áp dụng hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi của bị cáo nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nơi làm việc ổn định, chưa có tiền án, tiền sự và có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xét thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội nên không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cần áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự của Tòa án nhân dân tối cao cho bị cáo hưởng án treo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo được cân nhắc, xem xét khi quyết định hình phạt: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho người đại diện hợp pháp của bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về vật chứng và trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

Xét ý kiến của vị đại diện Viện Kiểm sát là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 128; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự của Tòa án nhân dân tối cao:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang S phạm tội “Vô ý làm chết người”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang S 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Quang S cho Ủy ban nhân dân xã An Điền, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo Nguyễn Quang S thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc phải chấp hành hình phạt của bản án này và tổng hợp hình phạt của Bản án mới theo quy định.

2. Về vật chứng và trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Quang S phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo, bị đơn dân sự được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết công khai./.

Cỡ chữ