vanban.org

Bản án 99/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Đông Hà, tỉnh Quảng Trị Tuyên án 28/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thanh H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" .

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của B luật tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc h i quy định về mức thu, miễn giảm, thu, n p, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bu c bị cáo Nguyễn Thị Thanh H phải chịu 200.000 (… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Thanh Huyền lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thanh H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" .
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 99/2023/HS-ST
Ngày 28/9/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Tạ Minh Khôi.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Mỹ Vinh và ông Hoàng Kim Đào.

Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Hoàng Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị; Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 85/2023/TLST-HS ngày 07 tháng 9 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2023, đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Thanh H, sinh ngày 21/01/2000; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Khu phố S, Phường M, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; trình đ h c v n: 10/12; Nghề nghiệp: Lao đ ng tự do; dân t c: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh K và bà Trương Thị B; gia đình có 02 chị em, bị cáo là con đầu; Chồng: Nguyễn Hữu X (đã ly hôn); con Nguyễn Ng c Nh, sinh năm 2021 (ở với anh Nguyễn Hữu X).

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 28/6/2023 cho đến nay - Có mặt.

- Bị hại:

+ Anh Nguyễn Thế Ch, sinh năm 1997, địa chỉ: Khu phố T, Phường N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị - vắng mặt.

+ Anh Trần Văn T, sinh năm 1999, địa chỉ: Khu phố B, Phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị - Vắng mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1963; địa chỉ: Khu phố T, Phường N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, n i dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ ngày 14/4/2023, Nguyễn Thị Thanh H do cần tiền tiêu xài cá nhân và biết anh Nguyễn Thế Ch (trú tại: Khu phố T, Phường N, thành phố Đ) là người quen của H có xe mô tô nên H đã nảy sinh ý định mượn xe đưa đi cầm cố để l y tiền tiêu xài. H liên lạc qua ứng dụng Messenger gặp anh Ch và giả vờ mượn xe để đi giao đồ và mua đồ dùng cá nhân thì anh Ch đồng ý. H đến nhà anh Ch mượn được xe mô tô nhãn hiệu Yamamha Sirius, biển kiểm soát 74C1-425.96 rồi điều khiển xe rời đi. Sau khi mượn được xe, H vào trang Facebook b m tìm với n i dung “cầm cố xe máy không có giấy tờ" và liên lạc với số điện thoại hiển thị trên trang mạng thì gặp m t người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch), H đặt v n đề muốn cầm cố xe không có gi y tờ thì người đàn ông đồng ý và hẹn H đến khu vực cầu Đại An, đường Hùng Vương, thành phố Đông Hà giao dịch cầm cố xe. H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 74C1- 425.96 đến địa điểm đã hẹn thì gặp m t người đàn ông không quen biết cầm xe được 4.500.000 đồng. Sau khi cầm được xe mô tô, H đón xe taxi về nhà, tiền có được H tiêu xài cá nhân hết .

Đến khoảng 22 giờ cùng ngày (ngày 14/4/2023), anh Trần Văn T (trú tại: Khu phố B, Phường B, thành phố Đ) nhắn tin cho H thì H tiếp tục nảy sinh ý định mượn xe mô tô của anh T mang đi cầm cố. H hẹn anh T đến tại gác chắn tàu đường Nguyễn Trãi đón H đi chơi. Khi gặp H, anh T chở H đến trước nhà nghỉ số 08 đường Hải Triều (thu c khu phố 9, Phường 1, thành phố Đông Hà) thì H nói với anh T cho H mượn xe mô tô đi đón con và mua đồ cá nhân sau đó sẽ quay lại. Anh T đồng ý và giao xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 74C1-458.30 cho H. Sau khi nhận được xe mô tô, H tiếp tục vào trang Facebook tìm kiếm n i dung “Cầm cố xe máy không có giấy tờ”, thì hiện lên trang tin có n i dung “Nhận cầm cố xe máy không có giấy tờ”, có gắn số điện thoại. H mượn điện thoại của m t người lạ mặt trên đường g i vào số điện thoại trên trang mạng cầm đồ thì có m t người đàn ông nghe máy. H đặt v n đề muốn cầm cố xe không có gi y tờ thì người đàn ông này đồng ý và hẹn H đến đoạn gần khu vực Nhà thờ đường Lý Thường Kiệt, thành phố Đông Hà giao dịch cầm cố xe. H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 74C1- 458.30 tới địa điểm đã hẹn thì gặp m t người đàn ông lạ mặt rồi cầm cố xe mô tô nói trên với giá 4.500.000 đồng. Số tiền có được, H tiêu xài cá nhân hết.

Sau khi giao xe mô tô cho H mượn nhưng không th y trả lại, anh Ch và anh T nhiều lần liên lạc với H yêu cầu trả xe mô tô nhưng H không trả lời. Đến ngày 29/4/2023, anh T và anh Ch trình báo với cơ quan Công an để điều tra làm rõ sự việc.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 38/KL-HĐĐGTS ngày 23/5/2023 của H i đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Đông Hà kết luận:

- Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen xám, số khung 3740LY058992, số máy: E32VE203254, biển kiểm soát: 74C1- 458.30, trị giá tài sản tại thời điểm bị chiếm đoạt là 14.995.200 đồng.

- Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen xám, số khung 3240KY229799, số máy: E3X9E623252, biển kiểm soát: 74C1-425.96, trị giá tài sản tại thời điểm bị chiếm đoạt là 12.600.000 đồng.

Cáo trạng số: 90/CT-VKSĐH ngày 06/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thanh H về t i “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của B luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà giữ nguyên n i dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị H i đồng xét xử:

- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của B luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh H từ 12 đến 15 tháng tù.

- Về xử lý vật chứng: Không xem xét.

- Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.

Bị cáo Nguyễn Thị Thanh H trình bày lời nói sau cùng: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, xin H i đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở n i dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, H i đồng xét xử nhận định:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, xét th y: Hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đông Hà, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền theo quy định của B luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo; bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên H i đồng xét xử không xem xét.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Thanh H đã khai nhận toàn b về hành vi phạm t i của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, do đó H i đồng xét xử xét th y đủ cơ sở kết luận:

Do có ý thức chiếm đoạt tài sản của anh Ch và anh T từ trước nên vào ngày 14/4/2023, Nguyễn Thị Thanh H đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối đưa ra thông tinh không đúng sự thật như giả vờ mượn xe của anh Ch để đi giao đồ và mua đồ dùng cá nhân và mượn xe của anh T để đi đón con và mua đồ cá nhân rồi trả lại xe, làm cho anh Ch và anh T tin tưởng là thật nên anh Ch, anh T đã giao xe mô tô nhãn hiệu Yamamha Sirius, biển kiểm soát 74C1-425.96 và xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 74C1-458.30 cho H mượn. Nhưng sau khi mượn được tài sản xe mô tô của anh Ch và anh T thì H đã chiếm đoạt đưa 02 xe mô tô đi cầm cố l y tiền tiêu xài cá nhân. Căn cứ kết luận định giá tài sản cho th y: Tài sản xe mô tô biển kiểm soát 74C1-425.96 của anh Ch, H đã chiếm đoạt có trị giá 12.600.000 đồng và xe mô tô biển kiểm soát 74C1- 458.30 của anh T, H đã chiếm đoạt có trị giá đồng 14.995.200 đồng. Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Thanh H đủ yếu tố c u thành t i “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của B luật hình sự như n i dung bản cáo trạng đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm t i nêu trên của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của công dân, gây m t trật tự trị an, làm ảnh hưởng x u đến dư luận quần chúng nhân dân sống trên địa bàn. Chỉ trong m t ngày nhưng bị cáo đã 02 lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, mỗi lần chiếm đoạt tài sản đều có giá trị trên 2.000.000 đồng, do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng phạm t i hai lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của B luật hình sự. Vì vậy, H i đồng xét xử xét th y cần phải xử phạt nghiêm đối với bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa Ch.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt H i đồng xét xử xét th y: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm t i của mình, sau khi phạm t i bị cáo đã tác đ ng với gia đình bồi thường và khắc phục hậu quả do hành vi phạm t i của mình gây ra. Quá trình điều tra bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, cần xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của B luật hình sự để giảm nhẹ m t phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Công an thành phố Đông Hà tạm thu giữ gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen xám, số khung 3740LY058992, số máy: E32VE203254; 01 Gi y chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 045483 của xe mô tô biển kiểm soát: 74C1-458.30; 01 Gi y chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 040301 của xe mô tô BKS 74C1-425.96 và đã trả lại cho các chủ sở hữu anh T và anh Ch nên không xem xét.

- Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị cáo H đã chu c lại xe mô tô biển kiểm soát 74C1-458.30 trả cho anh Trần Văn T. Đối với xe mô tô biển kiểm soát 74C1-425.96 của anh Ch không thu hồi lại được nên bị cáo đã bồi thường cho anh Ch số tiền 15.000.000 đồng. Hiện anh Ch, anh T không có yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự nên không xem xét.

6. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị Thanh H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Ban hành lệnh c m đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thanh H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" .

Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của B luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh H 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn ch p hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của B luật tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc h i quy định về mức thu, miễn giảm, thu, n p, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bu c bị cáo Nguyễn Thị Thanh H phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn đồng) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần liên quan của bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Toà án c p trên xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ