- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Văn D - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên: Trả lại cho bị cáo 01 mũ bảo hiểm đã qua sử dụng; 01 áo phông ngắn tay, loại áo có cổ, nhãn hiệu Tomy Hilfiger, màu ghi đã qua sử dụng; 01 quần bò lửng màu xanh, logo Shencong đã qua sử dụng; 01 qu…
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Hình sự trả lại; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN L THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 99/2023/HS-ST Ngày 28-7-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN L THÀNH PHỐ H
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Sự
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Bích N
Bà Hà Thị Nga
Thư ký phiên toà: Ông Phạm Mạnh Cường- Thư ký Toà án nhân dân quận L, thành phố H
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận L tham gia phiên toà: Ông Bùi
Tuấn N - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận L, thành phố H xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 91/2023/TLST-HS ngày 15 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 440/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:
Vũ Văn D, tên gọi khác: Không, sinh năm 1981 tại H. ĐKHKTT: Tổ dân
phố D,Thị trấn A, huyện A, thành phố H; chỗ ở hiện nay: Ngách 2/33 S, phường L, quận H, thành phố H; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn T và bà Phạm Thị S; có vợ là Vũ Thị Thanh N và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ ngày 21/10/2022, tạm giam ngày 30/10/2022; có mặt.
Bị hại:
- Chị Nguyễn Thị Ánh H, sinh năm 1996; chỗ ở hiện nay: Số 123/173 H,
phường H, quận L, thành phố H; vắng mặt
- Chị Bùi Bích N, sinh năm 1989; chỗ ở hiện nay: Số 69 D, phường D, quận L, thành phố H; vắng mặt
- Anh Phùng Quang V, sinh năm 1992; nơi cư trú: Số 7/59/212 Đ, phường
L, quận N, thành phố H; vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 08 giờ 30 phút ngày 07/10/2022, Công an phường Đ, quận L, H tiếp nhận trình báo của chị Nguyễn Ánh H, sinh năm 1996; Nơi ở hiện tại: số 123/173 H, phường H, quận L, H về việc: Khoảng 07 giờ 45 phút cùng ngày, tại khu vực trước cửa nhà số 128 Đình Đông, quận L, H, chị bị một đối tượng nam giới điều khiển xe mô tô đi từ phía sau áp sát, dùng tay giật 01 túi xách, bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6; tiền mặt; giấy tờ cá nhân mang tên Nguyễn Ánh H.
Hồi 09 giờ 00 phút ngày 12/10/2022, Công an phường D, quận L, H tiếp
nhận trình báo của chị Bùi Bích N, sinh năm 1989; Nơi ở hiện tại: số 69 D, phường D, quận L, H về việc: Khoảng 07 giờ 45 phút cùng ngày, tại khu vực trước cửa nhà số 18 H, quận L, H, chị N bị một đối tượng nam giới điều khiển xe mô tô đi từ phía sau áp sát, dùng tay giật 01 túi xách để ở giỏ xe, bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12; tiền mặt; giấy tờ cá nhân mang tên Bùi Bích N.
Hồi 09 giờ 30 phút ngày 21/10/2022, Công an phường T, quận L, H tiếp nhận trình báo của anh Phùng Quang V, sinh năm 1992; trú quán: Số 7/59/212 Đ, phường L, quận N, H về việc: Khoảng 07 giờ 00 phút cùng ngày, anh Việt điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 29H1-855.61 đến khu vực đường C, quận L, H và dựng xe tại khu vực trước cửa nhà số 72 C, quận L, H để vào chợ mua đồ. Trên tay lái xe mô tô của anh Việt có treo một túi đựng máy tính xách tay nhãn hiệu Dell đã qua sử dụng. Khi quay lại chỗ để xe thì anh không thấy túi của mình.
Sau khi tiếp nhận trình báo của các bị hại, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L đã tiến hành rà soát, kiểm tra hệ thống camera an ninh nơi xảy ra vụ việc, đã phát hiện và bắt giữ theo Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp số 55 ngày 21/10/2022 đối với Vũ Văn D cùng vật chứng là máy tính xách tay, nhãn hiệu Dell, màu đen, số Product ID: 00356-02354-25778- AAOEM; 01 túi xách; 01 bộ sạc nguồn; Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Vũ Văn D, Cơ quan Công an thu giữ: 01 mũ bảo hiểm đã qua sử dụng; 01 áo phông ngắn tay nhãn hiệu Tomy Hilfiger, màu ghi đã qua sử dụng; 01 quần bò lửng màu xanh, logo Shencong đã qua sử dụng; 01 quần bò dài màu xanh, logo M2B, đã qua sử dụng; 01 áo khoác dài tay màu tím than, 02 bên tay áo có 02 dọc kẻ màu trắng, logo Lacoste, đã qua sử dụng.
Tại Cơ quan điều tra, Vũ Văn D đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, cụ thể:
Về hành vi cướp giật tài sản
Vụ thứ nhất: Khoảng 07 giờ 45 phút ngày 07/10/2022, Vũ Văn D điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 15N1-083.80 trên đường Đ theo hướng ngã ba Bốt Tròn về đường L. D phát hiện thấy 01 phụ nữ đang điều khiển xe mô tô đi ngược chiều, trên võng xe để 01 túi xách, D nảy sinh ý định chiếm đoạt nên điều khiển xe quay lại đuổi theo. Khi đến khu vực trước cửa nhà số 128 Đ, quận L, H, D đã điều khiển xe vượt lên, áp sát, dùng tay trái giật túi xách và tăng ga bỏ chạy theo trục đường Đ
- H - T - H - C. Sau khi thấy an toàn, D mở túi kiểm tra, trong túi có: 01 điện thoại Iphone 6S Plus, loại 64Gb, màu vàng; 01 ví da màu đen, trong ví có 400.000 đồng, 01 Căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe, 01 chứng minh nhân dân, 01 thẻ ngân hàng (các giấy tờ trên đều mang tên Nguyễn Ánh H). D lấy tiền và điện thoại còn các giấy tờ thì D vứt lại trong ngách 17/440 C, quận L, H. D đã bán chiếc điện thoại trên cho một nam giới không rõ căn cước, lai lịch với giá 400.000 đồng. Số tiền chiếm đoạt được, D đã ăn tiêu cá nhân hết (chưa thu hồi được tài sản bị chiếm đoạt). Tại Bản kết luận định giá tài sản số 30/KL-ĐGTTHS ngày 24/4/2023 của 192 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận L kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus màu vàng, dung lượng 64Gb đã qua sử dụng. Giá trị được định giá tương đương 2.900.000 đồng; Không đủ căn cứ định giá túi xách của chị Nguyễn Ánh H.
Vụ thứ hai: khoảng 07 giờ 45 phút ngày 12/10/2022, Vũ Văn D điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 15N1-083.80 vào đổ xăng tại cây xăng D, quận L, H. Tại đây, D phát hiện thấy 01 phụ nữ điều khiển xe đạp theo hướng đường D về đường H, trong rọ xe có để 01 túi nilon màu vàng bên trong có 01 túi xách. D nảy sinh ý định chiếm đoạt nên đã điều khiển xe đi theo. Đến khu vực trước cửa nhà số 18 H, quận L, H, D đã điều khiển xe vượt lên, áp sát, dùng tay trái giật túi xách và tăng ga bỏ chạy về hướng đường Võ Nguyên Giáp rồi đi lên cầu Bùi Viện. Đến giữa cầu, D dừng xe kiểm tra túi xách, bên trong có: 10.500.000 đồng; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max màu vàng; 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng B1; 01 bảo hiểm y tế đều mang tên Bùi Bích N. D lấy số tiền và chiếc điện thoại, còn chiếc túi và giấy tờ cá nhân trong túi thì vứt xuống sông. D mang chiếc điện thoại trên bán cho một nam giới không rõ lai lịch tại khu vực đường tàu Mê Linh với giá 2.400.000 đồng. Số tiền chiếm đoạt được, D đã ăn tiêu cá nhân hết (hiện chưa thu hồi được tài sản bị chiếm đoạt). Tại Bản kết luận định giá tài sản số 32/KL-ĐGTTHS ngày 26/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận L kết luận: Không đủ căn cứ định giá chiếc điện thoại Iphone 12 Pro Max và chiếc túi xách của chị Bùi Bích N.
Về hành vi trộm cắp tài sản
Khoảng 06 giờ 45 phút ngày 21/10/2022, Vũ Văn D điều khiển xe mô tô
biển kiểm soát 15N1-083.80 trên đường C, quận L, H, đến khu vực trước cửa nhà số 72 C, D phát hiện thấy 01 xe mô tô đang dựng, trên tay lái xe có treo túi nilon đựng túi xách và không có người trông coi, D nảy sinh ý định chiếm đoạt. D điều khiển xe ra đường H, lấy khẩu trang che biển số xe của mình rồi quay lại nhà số 72 C. D dừng xe cạnh chiếc xe có treo túi xách rồi giả vờ gọi điện và quan sát xung quanh, thấy không có ai thì liền dùng tay trái lấy túi xách và điều khiền xe về phía đường H - C II. Khi đến khu vực ngã tư đường T- C II, D kiểm tra túi xách, thấy bên trong có 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell và 01 bộ sạc nguồn. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, D điều khiển xe đi đón con tại trường tiểu học Lê Văn Tám thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt giữ cùng vật chứng. Tại bản kết luận định giá tài sản số 85/KL-ĐGTTHS ngày 21/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận L kết luận: giá trị của máy tính xách tay, nhãn hiệu Dell, màu đen, số Product ID: 00356-02354- 25778-AAOEM là 8.400.000 đồng. Tại bản kết luận định giá tài sản số 46/KL-ĐGTTHS ngày 13/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận L kết luận: giá trị của 01 bộ sạc máy tính Dell, màu đen, đã qua sử dụng trị giá 110.000 đồng.
Lời khai của Vũ Văn D phù hợp với lời khai của các bị hại là chị Nguyễn
Ánh H, Bùi Bích N và anh Phùng Quang V; phù hợp với vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 02 USB lưu trữ hình ảnh camera an ninh tại nơi xảy ra các vụ việc được Cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập, chuyển cùng hồ sơ vụ án.
- Chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận L: 01 mũ bảo hiểm đã qua sử dụng; 01 áo phông ngắn tay, loại áo có cổ, nhãn hiệu Tomy Hilfiger, màu ghi đã qua sử dụng; 01 quần bò lửng màu xanh, logo Shencong đã qua sử dụng; 01 quần bò dài màu xanh, logo M2B, đã qua sử dụng; 01 áo khoác dài tay màu tím than, 02 bên tay áo có 02 dọc kẻ màu trắng, logo Lacoste, đã qua sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Gia đình Vũ Văn D đã bồi thường cho chị Bùi Bích N 25.000.000 đồng, bồi thường cho chị Nguyễn Ánh H 4.500.000 đồng. Các bị hại không yêu cầu Vũ Văn D phải bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình đối với Vũ Văn D.
Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 15N1-083.80, quá trình điều tra xác định người đứng tên chủ sở hữu là chị Vũ Thị Thanh N, sinh năm 1980; trú quán: Số 37/238 C, phường Dư H, quận L, H là vợ của Vũ Văn D. Đây là xe chị bỏ tiền cá nhân mua để phục vụ sinh hoạt gia đình và chỉ đưa xe máy cho Vũ Văn D làm phương tiện đưa đón con, chị Nga không biết D sử dụng xe làm phương tiện phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L đã trả lại cho chị Nga.
Tại Bản cáo trạng số 98/CT-VKS ngày 14/6/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân quận L, thành phố H đã truy tố Vũ Văn D về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm b khoản 2 Điều 171 và tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Vũ Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận L, thành phố H và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị hại trong vụ án đều vắng mặt tại phiên tòa, song đã có lời khai trong hồ sơ thể hiện:
Chị Nguyễn Ánh H khai: Tài sản của chị Hồng bị Vũ Văn D giật, lấy là 01 túi xách bên trong túi có 600.000 đồng tiền, 01 điện thoại IPHONE 6S Plus và các giấy tờ tuỳ thân. Quá trình điều tra gia đình bị cáo Vũ Văn D đã bồi thường thiệt hại cho chị Hồng số tiền 4.500.000 đồng, nay chị Hồng không yêu cầu bị cáo D phải bồi thường khoản tiền nào khác và chị Hồng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Chị Bùi Bích N khai: Chị N bị Vũ Văn D giật, lấy 01 chiếc túi xách giả da, bên trong túi xách có 10.500.000 đồng, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 12 Pro Max và một số giấy tờ tuỳ thân. Hiện chị N đã được gia đình bị cáo Vũ Văn D bồi thường số tiền 10.500.000đồng và giá trị chiếc điện thoại 15.000.000 đồng tổng số là 25.500.000đồng. Nay chị N không yêu cầu D phải bồi thường khoản tiền nào khác và chị N có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Anh Phùng Quang V khai: Lợi dụng trong lúc anh đang mua đồ không để ý tài sản treo ngoài xe, anh Việt đã bị Vũ Văn D lén lút lấy một chiếc cặp đựng 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell đã qua sử dụng và 01 bộ sạc của máy tính Dell, màu đen. Quá trình điều tra anh Việt đã nhận lại chiếc túi xách và máy tính xách tay còn nguyên vẹn. Nay anh Việt không yêu cầu bị cáo D phải bồi thường khoản tiền nào khác và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố trước tòa và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171; khoản 1 Điều 173; điểm b,s khoản 1, Khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự, xử phạt Vũ Văn D mức án 42 tháng đến 48 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” và từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt của 02 tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là từ 48 tháng đến 57 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 21 tháng 10 năm 2022; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo D. Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 3, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo 01 mũ bảo hiểm đã qua sử dụng; 01 áo phông ngắn tay, loại áo có cổ, nhãn hiệu Tomy Hilfiger, màu ghi đã qua sử dụng; 01 quần bò lửng màu xanh, logo Shencong đã qua sử dụng; 01 quần bò dài màu xanh, logo M2B, đã qua sử dụng; 01 áo khoác dài tay màu tím than, 02 bên tay áo có 02 dọc kẻ màu trắng, logo Lacoste, đã qua sử dụng. Về án phí: Bị cáo Vũ Văn D phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận L, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận L và Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
- Về căn cứ xác định tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo:
+ Đối với hành vi cướp giật:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; lời khai của bị hại, biên bản bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Vì vậy đã có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 07/10/2022 bằng thủ đoạn điều khiển xe mô tô áp sát người có tài sản bị cáo D đã giật, lấy của chị Nguyễn Ánh H 01 chiếc túi xách bên trong có 600.000 đồng tiền mặt và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus, ngay sau đó bị cáo điều khiển xe bỏ chạy. Giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt được định giá 2.900.000 đồng.
Tiếp đến ngày 12/10/2022 bằng thủ đoạn trên, bị cáo đã chiếm đoạt của chị Bùi Bích N tài sản là 01 túi xách bên trong có 10.500.000 đồng tiền mặt và 01 chiếc điện thoại Iphone 12 Promax. Chiếc điện thoại bị cáo đã đem bán với giá 2.400.000 đồng nay không thu hồi được. (Tại Bản kết luận định giá tài sản số 32/KL-ĐGTTHS ngày 26/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận L kết luận: Không đủ căn cứ định giá chiếc điện thoại Iphone 12 Pro Max và chiếc túi xách của chị Bùi Bích N).
Tuy nhiên, quá trình điều tra chị N yêu cầu bồi thường giá trị chiếc điện
thoại là 15.000.000 đồng, bị cáo D đồng ý với trị giá chiếc điện thoại như chị N yêu cầu và đã tác động gia đình bồi thường. Vì vậy, để đảm bảo nguyên tắc áp dụng các quy định có lợi cho bị cáo nên căn cứ vào lời khai của bị cáo, lời khai của các bị hại, Hội đồng xét xử xác định giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt của chị Bùi Bích N là 25.500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt trong 02 lần là 29.000.000 đồng. Như vậy, bị cáo Vũ Văn D đã phạm tội Cướp giật tài sản theo Điều 171 Bộ luật hình sự. Hành vi bị cáo dùng xe máy để giật tài sản được xác định là tình tiết định khung hình phạt “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.
Ngoài ra, vào ngày 21/10/2023, bị cáo đã thực hiện hành vi lén lút lợi dụng sơ hở đã chém đoạt của anh Phùng Quang V 01 máy tính xách tay và 01 bộ sạc nguồn. Trị giá tài sản bị cáo đã chiếm đoạt của anh Việt là 8.510.000 đồng. Do đó, bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân quận L đã truy tố bị cáo Vũ Văn D về hai tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự và tội “ Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xâm hại đến tài sản thuộc sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ, loại tội phạm này đang có chiều hướng gia tăng gây mất trật tự trị an xã hội và gây nguy hiểm cho tính mạng và sức khỏe của người khác. Vì vậy cần phải có hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và đặc điểm nhân thân của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này, đối với tội Cướp giật tài sản xác định bị cáo Vũ Văn D đã 02 lần thực hiện hành vi phạm tội vào ngày 07/10/2022 và ngày 12/10/2022. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: “Phạm tội 02 lần trở lên” được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường đầy đủ cho bị hại và các bị hại có đơn xin giảm nhẹ nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt trên mức khởi điểm của khung hình phạt đối tội “Cướp giật tài sản” quy định tại khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự và áp dụng hình phạt khởi điểm đối với tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đủ điều kiện giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt chung của 02 tội, buộc bị cáo Vũ Văn D phải chấp hành như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận L tại phiên toà là phù hợp, đúng pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có công việc thu nhập ổn định và không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong tại gia đoạn điều tra và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/6/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự quận L gồm 01 mũ bảo hiểm đã qua sử dụng; 01 áo phông ngắn tay, loại áo có cổ, nhãn hiệu Tomy Hilfiger, màu ghi đã qua sử dụng; 01 quần bò lửng màu xanh, logo Shencong đã qua sử dụng; 01 quần bò dài màu xanh, logo M2B, đã qua sử dụng; 01 áo khoác dài tay màu tím than, 02 bên tay áo có 02 dọc kẻ màu trắng, logo Lacoste, đã qua sử dụng.
Xét thấy, đây là vật dụng của bị cáo không phải là công cụ phương tiện phạm tội nên căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Hình sự trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Căn cứ Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo Vũ Văn D phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo Vũ Văn D, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171; khoản 1 Điều 173; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự, xử phạt Vũ Văn D 42 (Bốn mươi hai) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” và 06 (Sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt của 02 tội buộc bị cáo Vũ Văn D phải chấp hành hình phạt chung là 48 (Bốn mươi tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 21 tháng 10 năm 2022.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên: Trả lại cho bị cáo 01 mũ bảo hiểm đã qua sử dụng; 01 áo phông ngắn tay, loại áo có cổ, nhãn hiệu Tomy Hilfiger, màu ghi đã qua sử dụng; 01 quần bò lửng màu xanh, logo Shencong đã qua sử dụng; 01 quần bò dài màu xanh, logo M2B, đã qua sử dụng; 01 áo khoác dài tay màu tím than, 02 bên tay áo có 02 dọc kẻ màu trắng, logo Lacoste, đã qua sử dụng.
(Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng tại Chi cục Thi hành án quận L ngày 15 tháng 6 năm 2023).
Về án phí: Áp dụng Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Bị cáo Vũ Văn D phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo Vũ Văn D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết.
| Nơi nhận: - Bị cáo; UBND nơi bị cáo cư trú; - VKSND thành phố; - Bị hại; - VKSND quận L; - Công an quận L; - Phòng PV06; PC10; - THA hình sự; - Chi cục THADS quận L; - Sở tư pháp; - Lưu: HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Sự |