vanban.org

Bản án 99/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 19/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí T (tên gọi khác: Lý T) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí T 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 24/12/2022. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Chí Thông - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí T (tên gọi khác: Lý T) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG THÀNH
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 99/2023/HS-ST.
Ngày: 26-5-2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Tấn Hưng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Nam.

Ông Trịnh Sâm Châu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Trúc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành.

- Đ diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa: Ông Trần Tiến Dũng – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2022, tại điểm cầu trung tâm Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai và điểm cầu thành phần tại Nhà tạm giữ Công an huyện Long Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 84/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:

1. Nguyễn Chí T, (tên gọi khác: Lý T), sinh năm 1989 tại Bạc Liêu

Nơi đăng ký thường trú: Ấp 3, xã LĐĐA, huyện ĐH, tỉnh BL.

Nơi sinh sống: Tổ 4, Khu phố 3, thị trấn TrB, huyện TrB, tỉnh ĐN.

Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1956 và bà Lâm Hồng C, sinh năm 1963; Gia đình bị cáo có 04 anh chị em, bị cáo là con lớn nhất; Vợ là Trần Thị Bảo G, sinh năm 2000 và có 01 con sinh năm 2007.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 24/12/2022 , sau đó chuyển tạm giam đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Long Thành (có mặt).

- Bị hại:

1. Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1987 (vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ 01, Ấp 3, xã PT, huyện LT, tỉnh ĐN.

2. Anh Phạm Thanh S, sinh năm 1980 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp 17, xã VB, huyện HB, tỉnh BL.

3. Anh Nguyễn Minh Q, sinh năm 1989 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số 38 Bình Phước, xã BK, huyện CG, Thành phố HCM.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 20 giờ ngày 27/10/2018, Nguyễn Chí Đ, Nguyễn Chí T (thường gọi là Lý T, Đ và T là anh em ruột) và Nguyễn Văn Nh cùng uống rượu tại nhà trọ do T thuê ở ấp Long Phú, xã Phước Thái, huyện Long Thành. Sau đó, tất cả rủ nhau đi soi cua ba khía về ăn. Lúc này, do không có đèn pin nên Nh điều khiển xe mô tô đến nhà của anh Nguyễn Văn Ch ở ấp Long Phú, xã Phước Thái, huyện Long Thành, Đồng Nai để mượn đèn pin. Khi đến, Nh thấy có Nguyễn Văn C, Phạm Thanh S, Nguyễn Minh Q và Nguyễn Minh V cùng một số người khác đang ngồi uống rượu. Lúc này, C có nói với Nh xin đi soi ba khía cùng nhưng Nh không cho nên giữa C và Nh có cãi nhau qua lại nhưng không xảy ra mâu thuẫn đánh nhau. Sau đó, Nh bỏ đi về phòng trọ của T. Do Nh chỉ mượn được 01 đèn pin nên Đ tiếp tục điều khiển xe mô tô đi tìm Nguyễn Minh V để mượn thêm đèn pin. Đ điều khiển xe đi qua nhà của anh Ch thì thấy V đang ngồi uống rượu nên Đ dừng xe lại đi vào gặp V. Thấy Đ đi vào, C nói “Mày có phải là em của Lý T không, mày bảo Lý T đến gặp tao”, nghe C nói vậy thì Đ bỏ về phòng trọ của T kể lại cho T và Nh nghe. Nh cũng kể lại sự việc khi Nh đến mượn đèn pin có xảy ra cự cãi qua lại với những người uống rượu tại nhà anh Ch. Lúc này, T nói “để đi lại xem bọn nó muốn gì”. Đ xuống bếp nhà trọ của T lấy 01 cái kéo, T lấy 01 con dao thái thịt dài 2,5cm, Nh cầm 01 đoạn gỗ dài khoảng 01m rồi cùng nhau đến nhà của anh Ch để đánh nhóm C. Khi đến, Đ hỏi C “Anh là ai, kiếm anh tôi có việc gì” rồi dùng kéo đâm trúng vùng bụng của C. Lúc này, thấy C bị Đ đánh nên Q và S dùng ghế nhựa đánh lại Đ. Lúc này, T dùng dao và Nh dùng cây xông vào đánh nhau với Q và S. Đ dùng kéo đâm S 01 trúng vào lưng trái và đâm Q 01 cái trúng 01 cái vào lưng phải gây thương tích. Sau đó, Đ, T và Nh bỏ trốn.

Đến ngày 02/8/2019, Đ và Nh bị Cơ quan C sát điều tra Công an huyện Long Thành bắt tạm giam. Ngày 26/11/2019, Đ và Nh đã bị Tòa án nhân dân huyện Long Thành xét xử tại Bản án số 148/2019/HSST.

Riêng Nguyễn Chí T bỏ trốn đến ngày 24/12/2022, bị Cơ quan C sát điều tra Công an huyện Long Thành bắt giữ theo Quyết định truy nã.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 1057/TgT/2018 ngày 27/12/2018 của Trung tâm pháp y Sở y tế Đồng Nai kết luận thương tích của Nguyễn Văn C như sau:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

Vết thương thấu bụng gây thùng Đ tràng một lỗ phải phẫu thuật đưa lỗ thủng ra ngoài làm hậu môn nhân tạo (Áp dụng Chương 5, điều IV, mục 1.3). Tỷ lệ 51%.

Vết thương trên nền vết mổ kích thước 4 x 1,5cm trong đó có 01 phần để hở da chưa lành (Áp dụng Chương 9, điều I, mục 1). Tỷ lệ: 03%.

2. Tỷ lệ thương cơ thể (Áp dụng theo phương pháp cộng lùi) do thương tích gây ra nên tại thời điểm giám định là : 52%.

3. Kết luận khác:

- Vật gây thương tích: Vật sắc nhọn.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 1058/TgT/2018 ngày 27/12/2018 của Trung tâm pháp y Sở y tế Đồng Nai kết luận thương tích của Phạm Thanh S như sau:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Sẹo lưng trái kích thước 02x0,2cm (Áp dụng Chương 9, điều I, mục 1). Tỷ

lệ: 01%.

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là: 01%

3. Kết luận khác:

- Vật gây thương tích: vật sắc.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 1059/Tg1/2018 ngày 27/12/2018 của Trung tâm pháp y Sở y tế Đồng Nai kết luận thương tích của Nguyễn Minh Q như sau:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Sẹo lưng phải kích thước 04x0,2cm (Áp dụng Chương 9, điều I, mục 1). Tỷ lệ: 03%.

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là: 03%.

3. Kết luận khác:

- Vật gây thương tích: vật sắc.

Vật chứng vụ án: 01 cái kéo và 01 đoạn cây gỗ và 01 con dao có đặc điểm nêu trên, sau khi phạm tội, Đ, Nh và T vứt bỏ tại hiện trường và bị thất lạc, Cơ quan C sát điều tra Công an huyện Long Thành đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được.

Về trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết tại Bản án số 148/2019/HSST ngày 26/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành.

Tại bản Cáo trạng số 80/CT-VKSLT ngày 26 tháng 4 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã truy tố bị cáo Nguyễn Chí T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1, điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Chí T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1, điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đề nghị áp dụng điểm a, i khoản 1, điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí T mức án từ 06 (sáu) năm đến 07 (bảy) năm tù.

Vật chứng vụ án: 01 cái kéo và 01 đoạn cây gỗ và 01 con dao có đặc điểm nêu trên, sau khi phạm tội, Đ, Nh và T vứt bỏ tại hiện trường và bị thất lạc, Cơ quan C sát điều tra Công an huyện Long Thành đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được.

Về trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết tại Bản án số 148/2019/HSST ngày 26/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan C sát điều tra – Công an huyện Long Thành, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

Về nội dung:

Lúc 20 giờ 30 phút, ngày 27/10/2018, bị cáo Nguyễn Chí T khởi xướng cùng anh Nguyễn Chí Đ và Nguyễn Văn Nh đến nhà của anh Nguyễn Văn Ch ở ấp Long Phú, xã Phước Thái, huyện Long Thành để đánh nhóm anh Nguyễn Văn C vì bị cáo T cho rằng anh C thách thức, hỗn láo, Đ mang theo 01 cái kéo, bị cáo T mang theo 01 con dao, Nh mang theo 01 đoạn gỗ dài khoảng 01m cùng đi đánh nhau. Khi đến nơi, Đ đi đến gặp C rồi dùng kéo đâm trúng bụng của anh C gây thương tích. Tiếp đó, Đ, bị cáo T và Nh đánh với anh Q và anh S. Đ dùng kéo đâm anh S 01 cái trúng vào lưng trái và đâm anh Q trúng vào lưng phải gây thương tích. Hậu quả, anh C thương tích tỷ lệ tổn thương cơ thể là 52%, anh S tỷ lệ 01% và anh Q tỷ lệ 03%. Bị cáo T và Đ, Nh chỉ vì mâu thuẫn nhỏ mà đã dùng dao, kéo, cây gỗ gây thương tích cho anh C, anh S và anh Q. Hành vi của bị cáo T, Đ và Nh có tính chất côn đồ và dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho các bị hại theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Đối với anh C tỷ lệ thương tích là 52%, anh S tỷ lệ 01% và anh Q là 3%, theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ a đến điểm k khoản 1 Điều này” Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành truy tố bị cáo Nguyễn Chí T phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1, điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an tại địa phương, thể hiện bị cáo là người coi thường pháp luật, coi thường sức khỏe người khác.

Trong vụ án này, bị cáo T không phải là người trực tiếp gây thương tích cho các bị hại nhưng bị cáo T là người khởi xướng để Đ và Nh thực hiện việc phạm tội, hơn nữa bị cáo T đã trốn truy nã. Vì vậy, phải tuyên xử bị cáo T một mức án tương xứng mức độ phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng: Không.

Tình tiết giảm nhẹ: Hội đồng xét xử xét thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Về trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết tại Bản án số 148/2019/HSST ngày 26/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành.

Vật chứng vụ án: 01 cái kéo và 01 đoạn cây gỗ và 01 con dao có đặc điểm nêu trên, sau khi phạm tội, Đ, Nh và T vứt bỏ tại hiện trường và bị thất lạc, Cơ quan C sát điều tra Công an huyện Long Thành đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Chí T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng điểm a, i khoản 1, điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí T (tên gọi khác: Lý T) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí T 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 24/12/2022.

Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.

- Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.

Buộc bị cáo Nguyễn Chí T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm

Bị cáo Nguyễn Chí T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ