- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? * Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đặng Thị P.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 99/2023/HNGĐ-ST Ngày: 25/12/2023 Về việc: “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN
Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Thanh Thái
- Các Hội thẩm Nhân dân:
1.
Ông Lê Thanh P
2.
Ông Võ Tự Trị
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Xuân – Thư ký Tòa án Nhân dân quận Ô Môn.
Ngày 25 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án Nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình đã thụ lý số: 265/2023/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2023 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 130/2023/QĐXXST-HN ngày 27 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên toà số 62/2023/QĐHPT-HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Đặng Thị P, sinh năm 1987
Địa chỉ: KV C, phường L, quận Ô Môn, Tp Cần Thơ
- Bị đơn: ông Hồ Thanh P, sinh năm 1982
Địa chỉ: KV C, phường L, quận Ô Môn, Tp Cần Thơ
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Theo Đơn khởi kiện ngày 17/7/2023 cũng như trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Đặng Thị P trình bày: Giữa bà và ông Hồ Thanh P tự nguyện tiến đến hôn nhân năm 2015, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Long Hưng, quận Ô Môn, Tp Cần Thơ. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng những năm gần đây thường xuyên mâu thuẫn, cải nhau, nguyên nhân chủ yếu là do ông Phong không quan tâm chăm sóc gia đình, thường xuyên uống rượu, mắng chửi bà và nhiều lần hâm doạ tạt axit với bà, bà đã nhiều lần báo đến chính quyền địa phương nhưng không được giúp đỡ. Bà xác định tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Hồ Thanh P. Quá trình chung sống không có tài sản chung, không có nợ chung và không có con chung.
* Bị đơn ông Hồ Thanh P trình bày: Quá trình giải quyết vụ án, Toà án tiến hành tống đạt hợp lệ nhiều lần cho ông Phong nhưng ông Phong từ chối nhận văn bản tố tụng nên Toà án tiến hành giải quyết vắng mặt ông Phong theo quy định.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc được ly hôn với ông Hồ Thanh P. Vợ chồng không có tài sản chung, không có con chung và không có nợ chung. Hiện nay tình cảm không còn, không ai lo lắng cho ai, tự mỗi người tìm thu nhập để sinh sống và ông Phong thường xuyên bỏ nhà đi, thi thoảng mới về nhà.
Bị đơn ông Hồ Thanh P vắng mặt tại phiên tòa nên không thể hiện ý kiến đối với vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật bên tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Hồ Thanh P. Giữa bà Đặng Thị P và ông Hồ Thanh P chung sống với nhau có đăng ký kết hôn theo qui định của Luật hôn nhân và gia đình nên xem là hôn nhân hợp pháp. Bị đơn có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại phường Long Hưng, quận Ô Môn, Tp Cần Thơ nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp ly hôn, tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Ô Môn theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án:
Về yêu cầu ly hôn của nguyên đơn: Quá trình giải quyết vụ án bà P trình bày sau khi đăng ký kết hôn, bà và ông Hồ Thanh P chung sống với nhau thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, chủ yếu do ông Hồ Thanh P không chăm lo cho cuộc sống gia đình, dẫn đến vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống.
Hội đồng xét xử xét thấy: Theo quy định tại Điều 17; Điều 19; Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì “Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình; Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình” nhưng theo lời trình bày của bà P thì nguyên nhân mâu thuẩn là do ông Phong không lo cho cuộc sống gia đình, thường xuyên uống rượu, từ nhiều năm nay ông Phong làm tạo thu nhập nhưng không đóng góp cho cuộc sống chung của vợ chồng, vợ chồng không còn tình cảm, quan tâm lẫn nhau.
Kể từ khi bà P nộp đơn ly hôn đến nay, ông Phong vẫn không thay đổi, không thể hiện việc muốn hàn gắn với bà P. Bà P vẫn giữ nguyên ý định ly hôn, cho thấy bà P đã không còn tình cảm và không muốn tiếp tục cuộc hôn nhân với ông Phong.
Do đó cho thấy tình trạng vợ chồng giữa bà P và ông Hồ Thanh P đã rạn nứt, hôn nhân đã chấm dứt trên thực tế; đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nếu tiếp tục cũng không mang lại hạnh phúc cho bà P và ông Hồ Thanh P. Vì vậy, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Đặng Thị P.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn trình bày không có nên Toà án không xem xét giải quyết. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp với ông Phong về tài sản chung, nợ chung, con chung sẽ được giải quyết thành vụ án khác.
Về án phí: Áp dụng Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2017/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Nguyên đơn bà Đặng Thị P phải chịu theo quy định của pháp luật về án phí ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 4 Điều 147, Khoản 1 Điều 207, điểm b Khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đặng Thị P.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Thị P được ly hôn với ông Hồ Thanh P.
- Về tài sản chung, nợ chung và con chung: Bà Đặng Thị P cho rằng không có, nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Đặng Thị P phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), chuyển tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002282 ngày 03/10/2023 của Chi Cục Thi hành án dân sự quận Ô Môn, TP. Cần Thơ thành án phí.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định) để yêu cầu Tòa án Nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
* Nơi nhận:
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Các đương sự;
| - VKSND TPCT; - VKSND Q. Ô Môn; - Chi cục THADS Q. Ô Môn; - UBND phường Long Hưng; - Lưu. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thanh Thái |