- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Dieu Thi X - Lý A S"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Điểu Thị X với bị đơn ông Lý A S về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 99/2023/HNGĐ-ST Ngày: 30/6/2023 V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Thùy Trinh;
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đặng Quang Hoạch;
Bà Đào Thị Giang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Cao Văn Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 1160/2022/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 97/2023/QĐST-HNGĐ ngày 12/6/2023 giữa:
- Nguyên đơn: Bà Điểu Thị X, sinh năm 1998; cư trú tại: ấp L, xã T, huyện B, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt tại phiên tòa;
- Bị đơn: Ông Lý A S, sinh năm 1993; cư trú tại: ấp L, xã T, huyện B, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 10/11/2022 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Điểu Thị X trình bày:
Sau thời gian quen biết, tìm hiểu; bà và ông Lý A S tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 117/2018 ngày 28/12/2018. Thời gian đầu sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó giữa bà và ông Lý A S phát sinh nhiều mâu thuẫn và thường xuyên cãi vã; nguyên nhân là do cả hai đều thay đổi tính cách, quan điểm sống; thường xuyên xảy ra bất đồng trong cách sinh hoạt gia đình, nuôi dạy con cái và thiếu tôn trọng nhau; hiện ông, bà cũng không còn chung sống với nhau nữa. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lý A S.
+ Về con chung: Bà và ông Lý A S có 02 con chung là Lý Hoài N, sinh ngày 14/9/2019 và Lý Phúc K, sinh ngày 26/02/2022. Hiện nay, cháu Lý Hoài N đang do ông Lý A S nuôi dưỡng, cháu Lý Phúc K đang do bà nuôi dưỡng. Do đó, sau khi ly hôn, bà yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Lý Phúc K, sinh ngày 26/02/2022; đề nghị giao con chung là Lý Hoài N, sinh ngày 14/9/2019 cho ông Lý A S được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; Tạm thời, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
+ Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.
+ Về nợ chung: Nguyên đơn trình bày không có.
- Tòa án đã tiến hành thủ tục tống đạt hợp lệ giấy triệu tập và các văn bản tố tụng cho bị đơn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Tuy nhiên, bị đơn ông Lý A S vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, cũng không cung cấp văn bản trình bày ý kiến và chứng cứ, tài liệu có liên quan về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Phần phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom tại phiên tòa:
+ Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án là đúng quy định pháp luật. Thẩm quyền giải quyết vụ án, việc thu thập chứng cứ, thời hạn giải quyết vụ án, gửi hồ sơ và tống đạt các văn bản tố tụng và xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định pháp luật.
Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn từ khi thụ lý đến khi xét xử là đúng theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt; đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.
+ Về đường lối giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Giao con chung là Lý Phúc K, sinh ngày 26/02/2022 cho bà Điểu Thị X trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; giao con chung là Lý Hoài N, sinh ngày 14/9/2019 cho ông Lý A S được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; Tạm thời, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
1.1 Nguyên đơn bà Điểu Thị X khởi kiện tranh chấp ly hôn, bị đơn ông Lý A S có nơi cư trú tại ấp L, xã T, huyện B, tỉnh Đồng Nai nên xác định bà Điểu Thị X là nguyên đơn, ông Lý A S là bị đơn và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và khoản 2, 3 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự.
1.2 Nguyên đơn bà Điểu Thị X có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn ông Lý A S đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228; điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà X, ông S.
Về nội dung:
2.1 Về quan hệ hôn nhân: Bà Điểu Thị X và ông Lý A S tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 117/2018 ngày 28/12/2018 nên quan hệ hôn nhân giữa bà X, ông S là hợp pháp.
Quá trình giải quyết vụ án, bà Điểu Thị X trình bày thời gian đầu sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó giữa bà và ông S phát sinh nhiều mâu thuẫn do cả hai đều thay đổi tính cách, quan điểm sống; thường xuyên xảy ra bất đồng trong cách sinh hoạt gia đình, nuôi dạy con cái và thiếu tôn trọng nhau. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông, bà được ly hôn.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập bị đơn đến Tòa án làm việc nhưng ông S không có mặt; Tòa án cũng đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông S không cung cấp văn bản trình bày ý kiến và tài liệu, chứng cứ đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Như vậy, có đủ cơ sở xác định ông Lý A S không mong muốn hàn gắn tình cảm hay tiếp tục xây dựng cuộc sống chung vợ chồng với bà Điểu Thị X; Hôn nhân của bà X, ông S đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được; Do đó, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà X, ông S được ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
2.2 Về con chung: Bà X, ông S có 02 con chung là Lý Hoài N, sinh ngày 14/9/2019 và Lý Phúc K, sinh ngày 26/02/2022; Hiện nay cháu Lý Hoài N đang ở cùng với ông Lý A S và cháu Lý Phúc K đang ở cùng với bà Điểu Thị X. Xét yêu cầu của bà X và sự cần thiết của việc đảm bảo sự phát triển ổn định của trẻ; căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, giao cháu Lý Hoài N, sinh ngày 14/9/2019 cho ông Lý A S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; Giao cháu Lý Phúc K, sinh ngày 26/02/2022 cho bà Điểu Thị X trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
2.3 Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
2.4 Về nợ chung: Nguyên đơn trình bày không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ của vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH :
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 238 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng các Điều 56, 57, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Điểu Thị X với bị đơn ông Lý A S về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Điểu Thị X được ly hôn với ông Lý A S.
2. Về con chung: Giao con chung là Lý Hoài N, sinh ngày 14/9/2019 cho ông Lý A S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; Giao con chung là Lý Phúc K, sinh ngày 26/02/2022 cho bà Điểu Thị X trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Bà Điểu Thị X và ông Lý A S có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con, khi cần thiết các đương sự có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí: Bà Điểu Thị X phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được tính từ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001986 ngày 10/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom. Bà Điểu Thị X đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
4. Thi hành bản án của Tòa án: Theo quy định của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014), trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy tại Điều 2, thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9; thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30.
5. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND H. Trảng Bom; - Chi cục Thi hành án dân sự H. Trảng Bom; - UBND xã Tây Hòa; (GCNKH số 117 ngày 28/12/2018) - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Thùy Trinh |