- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Thay đổi người nuôi con"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn T về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con chung tên Lê Thảo Tr, sinh năm 2017 đối với bà Phan Thị D.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 99/2023/HNGĐ-ST. Ngày 14 - 6 - 2023 V/v thay đổi người trực tiếp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Huỳnh Việt Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hải Hưng;
Ông Trịnh Thanh Trần
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Như Ý, Thư ký Tòa án nhân dân huyện U, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện U, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Hên - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 01/2023/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 01 năm 2023 về việc “thay đổi người trực tiếp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lê Văn T, sinh năm: 1983 (có mặt).
Địa chỉ: Khóm 1, thị t, huyện U, tỉnh C ..
- Bị đơn: Bà Phan Thị D, sinh năm: 1989 (có mặt).
Địa chỉ: Khóm 1, thị t, huyện U, tỉnh C ..
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 30 tháng 12 năm 2022 và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Lê Văn T trình bày: Ông với bà D ly hôn, con Tòa án giao cho bà D nuôi, ông có qua thăm rước con về nhà chơi và mua sữa cho con. Nay ông yêu cầu thay đổi người nuôi con chung tên Lê Thảo Tr, sinh ngày 14/07/2017 cho đến khi con đủ 18 tuổi từ bà Phan Thị D sang cho ông, do bà D hiện có chồng mà không trực tiếp chăm sóc con và hiện đi làm ở tỉnh khác, con phải gửi lại cho bà ngoại nuôi, con không được mẹ chăm sóc trực tiếp ảnh hưởng đến sự phát triển của con chung, ông đến thăm con thì bị gia đình bà D ngăn cản nên ông yêu cầu được thay đổi người trực tiếp nuôi con từ bà D sang cho ông.
- Quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bị đơn bà Phan Thị D trình bày: Sau khi ly hôn thì bà được Tòa án giao quyền nuôi con thì bà là người trực tiếp nuôi con. Đến năm 2020 thì bà đi làm thuê để kiếm tiền nuôi con, bà gửi con lại cho ông bà ngoại để con được đi học, bà gửi tiền cho ngoại để nuôi con. Vào tháng 7 năm 2022 ông T rước con về chơi sau đó trả lại cho bà thì con bị hoảng loạn sợ ông T, hiện con không đồng ý theo ông T về nhà ông T nên bà không đồng ý giao cho ông T. Tuy bà có chồng nhưng bà vẫn gửi tiền để nuôi con và cho con đi học, hiện bà đã về nhà để chăm sóc con. Việc ông T thăm con mấy năm nay vẫn thăm bình thường gia đình bà không ngăn cản. Đối với yêu cầu của ông T về việc thay đổi người nuôi con thì bà không đồng ý.
- Tại phiên tòa Kiểm sát viên phat biểu quan điểm: Về tố tụng Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Xét thấy, con chung sau khi ly hôn giao cho bà D nuôi vẫn được chăm sóc, đảm bảo sự phát triển, giáo dục bình thường, từ đó đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của ông T về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Ông Lê Văn T yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung tên Lê Thảo Tr đối với bà Phan Thị D, tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp hôn nhân gia đình về yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện U, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Ông T cho rằng bà D đã có gia đình riêng, không trực tiếp chăm sóc con mà giao cho ông bà ngoại chăm sóc, không đảm bảo sự phát triển của con chung, ông thăm con thì bị ngăn cản.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 84 của Luật hôn nhân gia đình quy định: “2. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:
a) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;
b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con”.
Xét thấy, bà D và ông T không thỏa thuận thay đổi người trực tiếp nuôi con. Theo bản án số 152/2018/NHGĐ-ST ngày 15 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện U, tỉnh Cà Mau, thì sau khi ly hôn bà D được giao quyền nuôi con chung tên Lê Thảo Tr, sinh ngày 14/7/2017.
Sau khi ly hôn thì bà D và con sinh sống tại khóm 1, thị trấn U Minh, huyện U, tỉnh Cà Mau chung với cha mẹ ruột của bà D. Quá trình ở với bà D, con chung vẫn phát triển bình thường. Đến năm 2020 do điều kiện kinh tế nên bà D phải đi làm để kiếm tiền nuôi con. Tuy nhiên, con chung vẫn được cho đi học, bà D cung cấp giấy chứng nhận cháu Lê Thảo Tr đang theo học lớp lá 1 tại trường mầm non Bạch Dương, bà D hiện tuy có chồng nhưng vẫn đảm bảo cho con chung tên Lê Thảo Tr được đi học, được giáo dục và vẫn đảm bảo điều kiện phát triển bình thường, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt, cho thấy bà D vẫn đảm bảo điều kiện nuôi con chung. Tại phiên tòa ông T không cung cấp chứng cứ gì thêm chứng minh bà D không đủ điều kiện nuôi con và không đảm bảo về quyền lợi mọi mặt của con. Ông T cho rằng khi thăm con thì bị ngăn cản không cho rước về nhà xét thấy đây là phương thức thăm nom do các bên tự thỏa thuận không phải là việc ngăn cản không cho thăm non như ông T trình bày. Mặt khác, từ sau khi ly hôn thì con chung tên Lê Thảo Tr vẫn ở chung với cha mẹ ruột bà D, là ông bà ngoại của cháu và vẫn phát triển bình thường, do đó, để tránh ảnh hưởng tâm lý của con chung khi có sự thay đổi môi trường sống cũng nhưng không đủ căn cứ xác định bà D không còn đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung nên Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận yêu cầu của ông T về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con chung.
Án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu không được chấp nhận nên ông T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn T về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con chung tên Lê Thảo Tr, sinh năm 2017 đối với bà Phan Thị D.
Án phí dân sự sơ thẩm ông Lê Văn T phải chịu 300.000 đồng, ông Lê Văn T đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010905 ngày 03/01/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện U, tỉnh Cà Mau chuyển thu án phí.
Án xử sơ thẩm, ông Lê Văn T, bà Phan Thị D có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qu y định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự ; - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện U, tỉnh Cà Mau; - Chi cục THA DS H. U Minh, T. Cà Mau; - Lưu:Hồ sơ, văn thư. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Huỳnh Việt Hằng |