vanban.org

Bản án 99/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 28/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Vũ HA phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Vũ HA 42 (Bốn mươi hai) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt 21/5/2022 Tuyên bố: Nguyễn Thanh T và Trần Đình S phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ HA "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Vũ HA phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ Q

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG NINH
Bản án số: 99/2022/HS-ST
Ngày 28-9-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ Q, TỈNH QUẢNG NINH

- TH3nh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thanh Tâm

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Phạm Thu H3

- Ông Vũ Khắc Hoàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Lan - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân Thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Đức Duyện - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2022 tại Tòa án nhân dân Thị xã Q, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 104/2022/TLST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2022/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2022 đối với các bị cáo:

1./ Họ và tên: Vũ HA; sinh ngày 12/11/1987 tại huyện Th, tH3nh phố H4 Phòng. Nơi thường trú: thôn 13, xã Ng, huyện Th, tH3nh phố H4 Phòng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ Vhóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vũ VNh và bà: Hoàng Thị M; Chung sống như vợ chồng với chị Đinh Thị H1 và có 03 (ba) con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 02/12/2010 TAND huyện Th, tH3nh phố H4 Phòng xử phạt 36 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" và 09 tháng tù về tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có", ngày 22/3/2013 chấp H3nh xong bản án; Ngày 12/8/2016, TAND tỉnh Thái Bình xử phạt 05 năm tù về tội "Trộm cắp tài sản", ngày 18/01/2020 chấp H3nh xong bản án; Bắt khẩn cấp ngày 21/5/2022. Hiện tạm giam. Có mặt;

2./ Họ và tên: Nguyễn Thanh T; sinh ngày 14/9/1991 tại tH3nh phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; Nơi ĐKHKTT: thôn L, xã V, tH3nh phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. Chỗ ở: thôn 3, xã VĐ, huyện VT, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Không; Trình độ Vhóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Đức H2 và bà: Phan Thị B; Có vợ: Phạm Thị Bích H3 và có 02 (hai) con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt khẩn cấp ngày 22/5/2022, tạm giam đến ngày 07/6/2022. Đang thực hiện Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú 56 ngày, kể từ 18/9/2022 của TAND thị xã Q. Có mặt;

3./ Họ và tên: Trần Đình S; Sinh ngày 26/12/1990 tại huyện VT, tỉnh Thái Bình; Nơi thường trú: thôn Hợp Tiến, xã Tam Quang, huyện VT, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Không; Trình độ Vhóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Đình H4 và bà: Nguyễn Thị Ch; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 24/12/2010 bị TAND thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp tài sản”, ngày 20/8/2013 chấp hành xong bản án; Đầu thú ngày 05/6/2022, tạm giữ đến ngày 07/6/2022. Đang thực hiện Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú 56 ngày, kể từ ngày 18/9/2022 của TAND thị xã Q. Có mặt.

* Bị hại:

1. Phạm Thị Thanh H1, sinh năm 1981. Nơi ĐKHKTT: số nhà 36B, tập thể D8, xã Tứ Hiệp, huyện Th, thành phố H. Chỗ ở: khu 1, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt;

2. Bùi Quốc V, sinh năm 1988. Nơi thường trú: thôn Núi Đanh, xã T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt;

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Hà Tiến D, sinh năm 1994. Nơi thường trú: thôn Quý Sen, xã S, huyện VT, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt;

2. Phạm Thị Bích H3, sinh năm 1991. Nơi ĐKHKTT: thôn L, xã V, thành phố Th1, tỉnh Thái Bình. Chỗ ở: thôn 3, xã VĐ, huyện VT, tỉnh Thái Bình. Có mặt;

3. Vũ Văn Nh, sinh năm 1959. Nơi thường trú: thôn 13, xã Ng, huyện Th, thành phố H1. Vắng mặt.

* Người làm chứng:

1. Nguyễn Thị Th2, sinh năm 1981. Nơi thường trú: khu 14, phường Hà An, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt;

2. Bùi Thị Thu V1, sinh năm 1979. Nơi thường trú: Số 1/145 phường Cầu Đất, quận Ng, thành phố H1. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Khoảng 23 giờ ngày 20/5/2022, Vũ HA điều khiển xe đạp từ nhà đến khu vực phường Q mục đích trộm cắp tài sản. Khi đi đến khu vực cánh đồng, HA giấu xe đạp ở cánh đồng và đi bộ về khu 1, phường Q thì phát hiện nhà chị Phạm Thị Thanh H1 khóa cổng, trong sân có môtô Honda SH Mode màu đỏ đen, BKS 14X1- 394.25, không có người trông coi HA trèo tường vào nhà, dùng cây sắt 01m, đường kính khoảng 03cm, một đầu cán dẹt, uốn cong mang theo từ nhà phá khóa cổng và phá khóa xe, dắt ra ngoài cổng, nổ máy, điều khiển xe về nhà, để ngoài sân và dùng bạt phủ kín chờ tìm người tiêu thụ. Trên đường đi, HA vất cây sắt ở ven đường (Cơ quan cảnh sát điều tra không thu hồi được). Hồi 07 giờ 30 phút ngày 21/5/2022, chị H1 phát hiện bị mất xe đã trình báo Cơ quan điều tra.

Tiến hành giữ Vũ HA trong trường hợp khẩn cấp, thu giữ: 01 môtô Honda SH Mode màu đỏ, BKS 14X1- 394.25 và 01 điện thoại Iphone 6s Plus màu vàng kèm sim. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Vũ HA thu giữ: 01 môtô Honda Wave màu trắng đen bạc, BKS 29S6-706.94; 01 môtô Piaggio Liberty màu xanh, BKS 15B1-074.79; 01 thanh kim loại dài 88,5cm, đường kính 02cm; 02 bình xịt hơi cay nhãn hiệu Nato, vỏ màu xanh; 01 hộp giấy in nhãn hiệu “Target Rifle” bên trong có khay nhựa đựng 44 viên đạn thân kim loại màu vàng, đầu đạn màu nâu (chì); 01 Giấy chứng nhận đăng ký môtô BKS 29S6-706.94 số 045766; 01 Giấy chứng nhận đăng ký môtô BKS 15B1-074.79 số 064891. Quá trình điều tra, HA khai nhận, ngoài lần trộm cắp xe môtô này HA còn thực hiện hành vi trộm cắp tài sản khác, cụ thể như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 17/4/2022, Vũ HA đi từ nhà xuống bến Rừng thị xã Q với mục đích trộm cắp tài sản, HA mang theo 01 thanh sắt dài 80cm, đường kính 02cm, một đầu được đập dẹt chia làm hai nhánh. Khi đi đến khu vực đường cao tốc Hạ Long - Hải Phòng phát hiện nhà anh Bùi Quốc V thuộc thôn Núi Đanh, xã T, thị xã Q khóa cổng và có ngõ nhỏ đi vào từ phía sau, quan sát không có người trông coi HA dùng thanh sắt phá khóa cổng rồi vào nhà theo lối ngõ nhỏ, bấm mở cửa cuốn và dắt môtô Yamaha Exiter màu đen BKS 14X1- 217.32 (số khung RLCUG0610GY306472, số máy G3D4E321589) ra ngoài tháo mặt nạ, đấu điện rồi nổ máy, điều khiển xe về hướng Hải Phòng, trên đường đi bị cáo nhặt được BKS 14B1 - 019.20. Đến địa phận cầu Đá Bạc, bị cáo tháo BKS 14X1- 217.32 vứt xuống sông rồi gắn BKS 14B1- 019.20 vào xe rồi điều khiển xe về nhà cất giấu.

Khoảng 02 ngày sau, bị cáo dùng Facebook “Anh Anh Hoang” giao bán xe trộm cắp được trên trang “Mua bán xe không giấy tờ miền Bắc” giá 9.000.000đ, Nguyễn Thanh T thấy tin đăng bán xe của HA đã nhắn tin hỏi, HA đồng ý bán. T chụp tin nhắn và trao đổi với Trần Đình S, S và T bàn bạc thống nhất mua chiếc xe trên với giá 7.000.000đ để bán kiếm lời rồi chia nhau; 02 ngày sau T dùng Face book “Nguyen Thanh Tan” nhắn tin hỏi mua xe và trả giá 7.000.000đ, HA đồng ý và trao đổi số điện thoại, hẹn gặp để thực hiện giao dịch. Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 02/5/2022, tại ngã tư Núi Đèo, huyện Th, thành phố H1, HA, S và T gặp nhau; sau đó HA dẫn T và S đến đoạn đường vắng để T và S xem xe. Quá trình xem xe, HA nói xe do trộm cắp được nhưng T và S vẫn đồng ý mua và trả giá 6.700.000đ, HA đồng ý bán. T đã chuyển khoản trả đủ HA 6.700.000đ (trong đó có 3.000.000đ của S). Số tiền bán xe HA đã chi tiêu cá nhân hết. Sau khi mua xe, T đem chiếc xe về nhà T cất giấu. Đến ngày 04/5/2022, tại ngã tư Thẫm thuộc huyện VT, tỉnh Thái Bình, T và S bán chiếc xe cho anh Hà Tiến D (nhưng không nói chiếc xe này do trộm cắp mà có chỉ nói có giấy tờ nhưng đang cầm cố) với giá 10.000.000đ (ngày 04 và 10/5/2022 mỗi lần anh D chuyển khoản 5.000.000đ cho S, S đưa lại tiền cho T); Sau khi bán xe, T đưa S 1.500.000đ tiền lãi bán xe và trả lại S 3.000.000đ tiền góp chung mua xe của HA. Tiền bán xe T và S đã chi tiêu cá nhân hết.

Ngày 21/5/2022, anh Hà Tiến D tự nguyện giao nộp môtô Yamaha Exciter, màu đen gắn BKS 14B1-019.20 và 01 điện thoại Iphone 7 màu đen để phục vụ điều tra. Ngày 22/5/2022, Cơ quan điều tra tiến H3nh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Thanh T và thu giữ: 01 điện thoại Iphone Xs Max màu đen kèm sim. Ngày 05/6/2022, Trần Đình S đến Cơ quan điều tra đầu thú.

Bản kết luận định giá tài sản số 30/KL-ĐGTS, ngày 23/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản thị xã Q kết luận: môtô Yamaha Exciter màu đen, BKS 14B1- 019.20 trị giá 32.900.000 đồng; môtô Honda SH Mode màu đỏ đen, BKS 14X1-394.25 trị giá 62.900.000 đồng. Tổng giá trị tài sản: 95.800.000đ

Kết luận giám định số 886/KL-KTHS, ngày 04/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh: 44 vật hình trụ tròn bằng kim loại, có phần vỏ màu vàng dài 15,5mm, phần đầu màu xám đường kính 5,6mm trụ là đạn thể thao cỡ (5,6x15,5)mm, không phải vũ khí quân dụng. Hoàn lại đối tượng giám định 40 viên.

Kết luận giám định số 1102/KL-KTHS, ngày 07/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh: các đặc điểm cơ bản của biển số 14B1-019.20 cần giám định khác với đặc điểm cơ bản của mẫu so sánh.

Kết luận giám định số 1105/KL-KTHS ngày 07/7/2022 và Kết luận giám định số 1143/KL-KTHS ngày 17/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh: Số khung, số máy hiện tại của môtô Exciter màu đen, lốc máy có chữ Yamaha gắn biển số 14B1-019.20; môtô Wave màu trắng đen bạc, lốc máy có chữ Honda, gắn biển số 29S6-706.94 và môtô Liberty màu xanh, lốc máy có chữ Piagio, gắn biển số 15B1-074.79 là số khung, số máy nguyên thủy.

Cáo trạng số 103/CT-VKSQY ngày 13/9/2022 Viện kiểm sát nhân dân Thị xã Q truy tố bị cáo Vũ HA về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 BLHS; bị cáo Nguyễn Thanh T và Trần Đình S về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 BLHS.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thị xã Q giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị căn cứ: điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Vũ HA từ 42 đến 48 tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt 21/5/2022. Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt: Trần Đình S từ 15 đến 18 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 đến 36 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt: Nguyễn Thanh T từ 12 đến 15 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 đến 30 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm;

Giao các bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban nhân dân xã giáo dục các bị cáo; Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại Iphone 6 Plus màu vàng đã qua sử dụng; tịch thu tiêu hủy 01 sim điện thoại mặt sau có dãy số 8984048000300774267 và 01 sim điện thoại Viettel 4G; Tịch thu 6.700.000đ của bị cáo Vũ HA sung ngân sách Nhà nước.

Bị cáo Vũ HA có lời khai phù hợp với toàn bộ nội dung vụ án. Xe môtô BKS 29S6 - 706.94, 02 bình xịt hơi cay và 44 viên đạn bị cáo mua để sử dụng; môtô BKS 15B1-07479 và thanh kim loại là của bố bị cáo. Chiếc điện thoại Iphone 6s Plus bị cáo đã sử dụng để liên lạc, nhắn tin với Nguyễn Thanh T nhằm mục đích bán môtô trộm cắp được cho T. Ngày 21/5/2022 bị cáo đi xe đạp từ nhà đến thôn 5, xã Hiệp Hòa bị cáo để xe tại lề đường, sau khi bị bắt về hành vi trộm cắp tài sản nhưng quay lại thì không thấy xe, do chiếc xe giá trị không lớn nên bị cáo không có yêu cầu gì về việc mất xe.

Bị cáo Trần Đình S và Nguyễn Thanh T có lời khai phù hợp với nhau về việc cùng bàn bạc lên mạng xã hội tìm xe trộm cắp không giấy tờ, chung tiền mua với giá rẻ về bảo dưỡng, tân trang lại cho đẹp bán giá cao hơn lấy tiền chi tiêu. Cả T và S đều biết xe do HA trộm cắp mà có nhưng vẫn mua để bán kiếm lời (S góp 3.000.000đ, T góp 3.700.000đ) sau khi mua xong T mang đi sửa chữa lại cho đẹp mang về nhà cất giấu, cả 2 bán xe mua được của HA cho anh D với giá 10.000.000đ kiếm lời được 3.300.000đ. Số tiền bán xe, T chia cho S 1.500.000đ tiền lãi, còn lại T chi tiêu, cả 2 bị cáo đã liên đới bồi thường xong. T đã sử dụng điện thoại Iphone Xs Max màu đen liên lạc, nhắn tin với HA nhưng đây là điện thoại bị cáo mượn của vợ (Phạm Thị Bích H3) để sử dụng, còn sim là của bị cáo.

Bị hại Bùi Quốc V khai: tối 17/4/2022 anh để môtô Yamaha Exiter màu đen BKS 14X1-217.32 tại tầng 1 nhà mình đến 03 giờ ngày 18/4/2022 thì phát hiện mất xe, sau khi kiểm tra camera an ninh thì thấy bị phá khóa cổng, khóa cổ xe bị bẻ và mở cửa cuốn dắt xe ra ngoài. Xe anh mua từ tháng 9/2016 với giá 52.900.000đ.

Bị hại Phạm Thị Thanh H1 có lời khai thể hiện: Khoảng 07 giờ 10 phút ngày 21/5/2022 chị phát hiện mất tài sản. do chiếc môtô Honda SH Mode màu đỏ đen BKS 14X1-394.25 của chị được gắn định vị và cài đặt trong điện thoại di động nên chị đã tiến hành kiểm tra hành trình di chuyển và biết chiếc xe bị trộm cắp từ khoảng 02 giờ 34 phút. Chiếc xe này chị mua với giá 63.000.000đ và được đăng ký mang tên Nguyễn Thị Th2. Người làm chứng Nguyễn Thị Th2 có lời khai phù hợp với bị hại Phạm Thanh H1 về việc mua chiếc xe trên vào tháng 8/2020 sau đó bán lại cho chị H1 nhưng không viết giấy mua bán, từ khi bán đến nay chị H1 quản lý, sử dụng xe.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Hà Tiến D khai: khi mua chiếc xe Yamaha Exiter màu đen gắn biển số 14B1-019.20 trên anh không biết là tài sản do phạm tội mà có. S giới thiệu xe có giấy tờ nhưng đang cầm cố và sẽ chuyển giấy tờ cho anh sau. Anh đã thanh toán hết 10.000.000đ cho S và T nhưng không viết giấy mua bán. Chiếc xe anh đã tự nguyện giao nộp để phục vụ điều tra, T và S đã bồi thường cho anh số tiền mua xe, anh không có yêu cầu gì khác.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Phạm Thị Bích H3 khai: điện thoại Iphone Xs Max màu đen do chị mua trả góp giá 6.500.000đ, chị sử dụng điện thoại trên đến tháng 4/2022 thì cho chồng (Nguyễn Thanh T) mượn do chồng chị bị mất điện thoại, chị không biết chồng mình sử dụng điện thoại để liên lạc và giao dịch với người đã bán chiếc xe máy do trộm cắp được.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Vũ Văn Nh khai: chiếc xe Piagio màu xanh BKS 15B1-074.79 ông mua lại vào tháng 10/2021 với giá 12.000.000đ có Giấy đăng ký theo xe sau khi mua xe ông quản lý, sử dụng. Người làm chứng Bùi Thị Thu V1 có lời khai phù hợp với nội dung vụ án về việc xe Piagio màu xanh BKS 15B1-074.79 chị mua và đăng ký sau đó đã bán cho người khác nhưng do đã lâu chị không nhớ thông tin người mua và không giữ giấy mua bán xe.

Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại môtô Yamaha Exciter màu đen, số khung RLCUG0610GY306472, số máy G3D4E321589 cho bị hại Bùi Quốc V; trả lại môtô Honda SH Mode màu đỏ, BKS 14X1- 394.25 cho bị hại Phạm Thị Thanh H1; trả lại môtô Liberty màu xanh, gắn biển số 15B1-074.79; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô BKS 15B1-074.79 số 064891 và 01 thanh kim loại dài 88,5cm, đường kính 02cm, hai đầu dẹt, một đầu cong cho ông Vũ Văn Nh; trả lại 01 điện thoại Iphone Xs Max màu đen cho chị Phạm Thị Bích H3; trả lại điện thoại Iphone 7 cho anh Hà Tiến D, không ai yêu cầu nội dung nào khác.

Xe Honda Wave màu trắng đen bạc BKS 29S6-706.94 là vật chứng trong vụ án Trộm cắp tài sản tại huyện S1, thành phố H, giữa năm 20121, Vũ HA đã mua chiếc xe này có Giấy chứng nhận đăng ký của một người không quen biết. Cơ quan điều tra Công an thị xã Q đã chuyển vật chứng đến Cơ quan điều tra Công an huyện S giải quyết theo thẩm quyền. 02 bình xịt hơi cay nhãn hiệu Nato, vỏ màu xanh; 40 viên đạn thể thao hoàn lại sau giám định Cơ quan điều tra đã chuyển Đội cảnh sát quản lý H3nh chính về trật tự xã hội Công an thị xã Q quản lý và xử lý theo quy định.

01 BKS 14B1 - 019.20 là biển số giả; 01 hộp giấy in nhãn hiệu “Target Rifle”; 01 khay nhựa dùng đựng dạn không có giá trị sử dụng, Cơ quan điều tra ra Quyết định tiêu hủy.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Q, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân Thị xã Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bảo đảm các quyền, nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng, không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Về chứng cứ xác định có tội: Lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo Vũ HA về việc chuẩn bị công cụ phạm tội, lén lút lợi dụng sơ hở, mất cảnh giác của bị hại để trộm cắp và tiêu thụ tài sản lấy tiền chi tiêu cá nhân phù hợp với nội dung vụ án, phù hợp với lời khai của các bị hại về việc bị mất tài sản; phù hợp lời khai của bị cáo Nguyễn Thanh T, Trần Đình S về việc biết tài sản HA trộm cắp mà có nhưng vẫn tiêu thụ để kiếm lời bất chính; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người người làm chứng; phù hợp với Biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp; Biên bản khám xét; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; Phiếu trả lời xác minh; Bản kết luận định giá tài sản; Kết luận giám định; Bản ảnh trích xuất; Bản ảnh; Bản ảnh vật chứng.

Như vậy, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ ngày 17/4/2022, tại thôn Núi Đanh, xã T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, Vũ HA có hành vi trộm cắp môtô Yamaha Exiter màu đen BKS 14X1-217.32 trị giá 32.900.000đồng của anh Bùi Quốc V; đến ngày 02/5/2022 HA bán chiếc xe trên cho Nguyễn Thanh T và Trần Đình S, mặc dù biết rõ nguồn gốc chiếc xe trên là do phạm tội mà có, nhưng T và S vẫn mua với giá 6.700.000đ để bán kiếm lời. Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 21/5/2022, tại khu 1, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, Vũ HA có hành vi trộm cắp môtô Honda SH Mode màu đỏ đen, BKS 14X1-394.25 trị giá 62.900.000đ của chị Phạm Thị Thanh H1 thì bị phát hiện, bắt thu giữ vật chứng. Tổng giá trị tài sản bị cáo Vũ HA trộm cắp là 95.800.000đ.

Tội danh và hình phạt được tại khoản 2 Điều 173 và khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự:

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:…

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

…….

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng”…

Điều 323. Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

“1. Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”

Đối với anh Hà Tiến D có hành vi mua môtô Yamaha Exiter gắn BKS 14B1-019.20 của bị cáo Nguyễn Thanh T và Trần Đình S nhưng không biết đó là tài sản do phạm tội mà có nên không đề cập xử lý.

Tính chất mức độ, hành vi phạm tội: hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vi phạm pháp luật, hành vi trộm cắp tài sản của Vũ HA xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang, lo lắng cho nhân dân thuộc nhiều phường trên địa bàn thị xã Q; gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội; lén lút, lợi dụng sơ hở mất cảnh giác để chiếm đoạt tài sản của nhiều bị hại trong một thời gian dài. Về nhân thân, bị cáo HA đã bị Tòa án xét xử về cùng loại tội này nhưng không lấy đó làm bài học kinh nghiệm mà còn cố ý thực hiện H3nh vi phạm tội. Bị cáo Nguyễn Thanh T và Trần Đình S biết rõ tài sản do HA trộm cắp mà có nhưng vẫn tiêu thụ nhằm mục đích thu lời bất chính thể hiện sự coi thường pháp luật, xâm phạm vào trật tự an toàn công cộng, gây khó khăn cho việc phát hiện, điều tra xử lý người phạm tội; do đó phải xử lý nghiêm để răn đe, phòng ngừa riêng và giáo dục chung.

Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hướng xử lý:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo Vũ HA phạm tội 02 lần trở lên, đây là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: cả 3 bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo T, S đều bồi thường khắc phục hậu quả, bị cáo T phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trong; bị cáo S tự nguyện ra đầu thú đây là những tình tiết xem xét giảm nhẹ theo điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thị xã Q đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật, phù hợp.

Trong vụ án này bị cáo HA một mình thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu trách nhiệm độc lập với hành vi phạm tội của mình; bị cáo T và S là đồng phạm cùng cố ý thực hiện một hành vi phạm tội; T phạm tội lần đầu, về nhân thân S đã bị Tòa án xét xử nhưng T chủ động hơn S trong việc thực hiện hành vi phạm tội; do đó, quyết định hình phạt đối với bị cáo T và S ngang nhau là phù hợp.

Xét bị cáo Nguyễn Thanh T và Trần Đình S không tiền án, tiền sự; có nơi cư trú rõ ràng để tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục; việc xử lý các bị cáo chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ sửa chữa sai lầm, trở thành công dân có ích. Vì vậy, không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội, các bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, đủ để giáo dục riêng, phòng ngừa chung đồng thời thể hiện tính nhân đạo của pháp luật. Phải cách ly bị cáo Vũ HA khỏi xã hội một thời gian để tiếp tục giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về bồi thường thiệt hại: các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu, Hội dồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về trách nhiệm dân sự: số tiền 6.700.000đ HA bán xe cho T và S là tiền thu lời bất chính cần tịch thu, sung ngân sách Nhà nước.

Về vật chứng của vụ án: môtô Yamaha Exciter màu đen, số khung RLCUG0610GY306472, số máy G3D4E321589; môtô Honda SH Mode màu đỏ, BKS 14X1- 394.25; môtô Liberty màu xanh, gắn biển số 15B1-074.79; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô BKS 15B1-074.79 số 064891 và 01 thanh kim loại dài 88,5cm, đường kính 02cm, hai đầu dẹt, một đầu cong; 01 điện thoại Iphone Xs Max màu đen; 01 điện thoại Iphone 7 màu đen tất cả đã được trả lại cho chủ sở hữu; cây sắt 01m, đường kính khoảng 03cm, một đầu cán dẹt, uốn cong không thu hồi được, Hội đồng xét xử không xem xét.

Xe Honda Wave màu trắng đen bạc BKS 29S6-706.94; 02 bình xịt hơi cay và 40 viên đạn thể thao đã chuyển đến các cơ quan giải quyết theo thẩm quyền; 01 BKS 14B1 - 019.20 là biển số giả; 01 hộp giấy in nhãn hiệu “Target Rifle”; 01 khay nhựa dùng đựng dạn không có giá trị sử dụng, Cơ quan điều tra ra Quyết định tiêu hủy, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Chiếc điện thoại Iphone 6s Plus kèm sim của HA và chiếc sim điện thoại của Nguyễn Thanh T là công cụ phạm tội nên tịch thu, sung quỹ Nhà nước và tịch thu, tiêu hủy theo quy định.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Vũ HA phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Vũ HA 42 (Bốn mươi hai) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt 21/5/2022

Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự. (Bị cáo Nguyễn Thanh T áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Trần Đình S áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự)

Tuyên bố: Nguyễn Thanh T và Trần Đình S phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Xử phạt: Nguyễn Thanh T 15 (Mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt: Trần Đình S 15 (Mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Thanh T cho Uỷ ban nhân dân xã VĐ, huyện VT, tỉnh Thái Bình; giao bị cáo Trần Đình S cho Ủy ban nhân dân xã Tam Quang, huyện VT, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách;

Gia đình bị cáo Nguyễn Thanh T có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban nhân dân xã Vũ Đoài, gia đình bị cáo Trần Thanh S có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Tam Quang, huyện VT, tỉnh Thái Bình giáo dục các bị cáo; Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu các bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự: Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 133 và 134/2022/LCĐKNCT-TA ngày 16/9/2022 và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh số 189 và 190/2022/QĐ-TA ngày 16/9/2022 của TAND thị xã Q đối với bị cáo Trần Đình S và Nguyễn Thanh T.

Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại Iphone 6 Plus màu vàng đã qua sử dụng; tịch thu tiêu hủy 01 sim điện thoại mặt sau có dãy số 8984048000300774267 và 01 sim điện thoại Viettel 4G (Tình trạng như B bản giao nhận vật chứng ngày 15/9/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Q); Tịch thu của bị cáo Vũ HA 6.700.000đ (Sáu triệu bảy trăm nghìn đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

Căn cứ Điều 331; Điều 333; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Vũ HA, Nguyễn Thanh T và Trần Đình S mỗi bị cáo chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, báo quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trọng hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKS; CA; THADS Tx Q;

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

- TAND, VKSND tỉnh Quảng Ninh;

- Bị cáo, bị hại; NCQL,NVLQ;

- Cq CSĐT, Nhà tạm giữ CA Tx Q;

- Lưu.

Lê Thanh Tâm

Cỡ chữ