vanban.org

Bản án 99/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 25/10/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo: Phạm Duy T (tên gọi khác: Bình)

Phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Duy Tuấn - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Phạm Duy T (tên gọi khác: Bình)
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ MÓNG CÁI
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 99/2022/HS-ST
Ngày 25-10-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Cao Văn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thế Căn - Cán bộ nghỉ hưu.

2. Bà Đinh Thanh Hoàn - Cán bộ nghỉ hưu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lục Thanh Hương là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thành và ông Trần Trung Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 10 năm 2022, tại Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 101/2022/TLST-HS ngày 05 tháng 10 năm 2022; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 98/2022/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:

* Họ và tên: Phạm Duy T (tên gọi khác: Bình); sinh ngày: 20/5/1976 tại Hải Hà, Quảng Ninh; nơi cư trú: khu Trần Quốc T, thị trấn QH, huyện H, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 5/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Phạm Tiến M, đã chết và bà Ngô Thị T, sinh năm 1939; anh chị em ruột: có 06 người, bị cáo là con thứ sáu; vợ, con: chưa có; tiền án: ngày 11/6/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 BLHS, đến ngày 21/4/2022, T chấp hành xong hình phạt tù; tiền sự: không; nhân thân: năm 2003, bị Tòa án nhân dân huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh tuyên phạt 24 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 138 BLHS năm 1999. Năm 2007, bị Tòa án nhân dân thị xã Móng Cái tuyên phạt 03 năm tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điêu 194 BLHS 1999; bị cáo bị bắt quả tang ngày 18/6/2022, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Móng Cái. Có mặt tại phiên tòa.

* Người chứng kiến: Vũ Duy T, sinh năm 1992, địa chỉ: thôn 7, xã H, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Duy T là đối tượng nghiện ma túy Heroine từ năm 2007 đến nay. Khoảng 08 giờ ngày 18/6/2022, T đón xe khách từ huyện Hải Hà đi đến thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh để đi đám cưới. Đến khoảng 08 giờ 50 phút cùng ngày, khi xe khách đi đến thôn 8, xã Hải Tiến, thành phố Móng Cái thì T nảy sinh ý định mua ma túy để sử dụng. T liền xuống xe và gọi điện thoại cho một người đàn ông tên Sơn (không rõ lai lịch, địa chỉ) thỏa thuận mua 01 túi ma túy Heroine với giá 300.000 đồng, Sơn đồng ý và bảo T đợi ở khu vực mương nước thuộc thôn 8, xã Hải Tiến.

Khoảng 09 giờ 15 phút cùng ngày, Sơn điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đỏ (không rõ biển số) đến nơi T đang đợi, Sơn quay đầu xe rồi đưa cho T 01 gói giấy trắng và nhận tiền từ T như đã thỏa thuận trước đó. Sau đó, Sơn điều khiển xe máy bỏ đi còn T cất giấu số ma túy này vào túi quần phía trước, bên trái rồi đi bộ ra khu vực đường Quốc lộ để đón xe khách đến thành phố Móng Cái. Lúc này, tổ công tác Công an xã Hải Tiến làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát thì phát hiện T có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra thì bắt quả tang trong túi quần phía trước, bên trái của T có 01 gói giấy màu trắng, bên trong có 01 gói giấy bạc chứa chất bột màu trắng, nghi là ma túy. Ngoài ra còn thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, gắn sim số 0363.944.876.

Tại Kết luận giám định chất ma túy số 1008 ngày 24/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh xác định: Chất bột màu trắng trong gói giấy thu giữ khi bắt quả tang Phạm Duy T là ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,177 (không phẩy một bảy bảy) gam. Hoàn lại sau giám định 0,12 gam.

Quá trình điều tra, Phạm Duy T khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Tại bản Cáo trạng số: 100/CT-VKS-MC, ngày 04 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh truy tố Phạm Duy T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Duy T khai nhận đã thực hiện hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng.

*Phần tranh luận: Đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự:

Xử phạt: Phạm Duy T từ 18 (mười tám) tháng đến 21 (hai mươi mốt) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 18/6/2022.

- Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về vật chứng: áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Tịch thu, tiêu hủy 0,12 gam ma túy Heroine cùng các vỏ bao bì hoàn lại sau giám định trong phong bì niêm phong số 1008/KL-KTHS.

+ Tịch thu, phát mại, sung ngân sách nhà nước của Phạm Duy T: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, gắn sim số 0363.944.876.

Bị cáo không tranh luận gì với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị

cáo.

s

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Móng Cái, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Nhận định của Hội đồng xét xử về những chứng cứ xác định bị cáo có tội, về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, bản ảnh, vật chứng thu giữ, bản kết luận giám định, cùng toàn bộ tài liệu thu thập được có trong hồ sơ vụ án, hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 09 giờ 15 phút ngày 18/6/2022, tại thôn 8, xã Hải Tiến, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh, Phạm Duy T có hành vi cất giấu trong túi quần phía trước, bên trái 0,177 (không phẩy một bảy bảy) gam ma túy Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác Công an xã Hải Tiến bắt quả tang. Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo Phạm Duy T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái truy tố bị cáo Phạm Duy T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ.

Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:…

c) Heroine… có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

Đánh giá hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm nghiêm trọng chính sách độc quyền quản lý Nhà nước về các chất ma túy, tiếp tay cho tệ nạn ma túy phát triển gây mất trật tự trị an, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo còn có 01 tiền án, ngày 11/6/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành án xong ngày 21/4/2022; nhân thân bị cáo còn có hai lần bị Tòa án xét xử về các tội “Trộm cắp tài sản” vào năm 2003 và “Mua bán trái phép chất ma túy” vào năm 2007, đều đã được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân mà lại đi vào con đường phạm tội, nên việc đưa bị cáo ra xét xử công khai, xử lý nghiêm, tương xứng với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo đồng thời tuyên truyền phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 11/6/2021, bị cáo Phạm Duy T bị Tòa án nhân dân huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 21/4/2022 chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, mẹ bị cáo được nhà nước tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhì nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, xét bị cáo không có việc làm và thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng gồm:

- 0,12 gam ma túy Heroine cùng các vỏ bao bì hoàn lại sau giám định trong phong bì niêm phong số 1008/KL-KTHS ngày 24/6/2022, đây là vật nhà nước cấm cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, gắn sim số 0363.944.876. Điện thoại cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy bên trong, vật chứng bị cáo sử dụng dùng vào việc phạm tội, cần tịch thu, phát mại, sung ngân sách nhà nước.

[ 8] Về lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát: xét những chứng cứ mà Kiểm sát viên dùng để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo đã được cơ quan điều tra thu thập theo đúng trình tự, thủ tục mà Bộ luật tố tụng Hình sự quy định; tại phiên tòa bị cáo cũng đã thừa nhận thực hiện hành vi như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nên lời buộc tội của Kiểm sát viên về tội danh, khung hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[ 9] Về án phí: bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Đối với đối tượng tên Sơn là người bán ma túy cho T, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo: Phạm Duy T (tên gọi khác: Bình)

Phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự:

Xử phạt: Phạm Duy T 21 (hai mươi mốt) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt 18/6/2022.

2.Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 0,12 gam ma túy Heroine cùng các vỏ bao bì hoàn lại sau giám định niêm phong theo đúng quy định của pháp luật. Mặt trước phong bì ghi: “Phòng kỹ thuật hình sự Đội giám định số 1008/KL-KTHS mẫu vật hoàn lại kèm theo kết luận giám định số 1008 ngày 24/6/2022 vụ Phạm Duy T - TTMT”.

- Tịch thu, phát mại, sung ngân sách nhà nước của Phạm Duy T: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, gắn sim số 0363.944.876. Điện thoại cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy bên trong, vật chứng bị cáo sử dụng dùng vào việc phạm tội. (Vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng số: 01/2023/THA ngày 04/10/2022, tại Chi cục Thi hành án Dân sự, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.)

3. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Phạm Duy T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: áp dụng khoản 1 Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo Phạm Duy T. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ