- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Đình C - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Đình H phạm tội “Cố ý gây Aơng tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 99/2022/HS-ST Ngày: 09-12-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Quốc Khánh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thực và bà Phạm Thị Huệ.
- A ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Trường - A ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hoài Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 12 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 90/2022/HSST ngày 03 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2022/QĐXXST-HS ngày 28/11/2022 đối với bị cáo:
Trần Đình H, sinh ngày 02/02/1964 tại tỉnh Thái Bình. Nơi cư trú: thôn Y, xã DC, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn Giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 07/10; Con ông Trần Văn S, đã chết và bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1930; Vợ: Trần Thị T, sinh năm 1962, có hai con, con lớn sinh năm 1983, con nhỏ sinh năm 1986. Tiền án, tiền sự: Không. Bị can bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 29/8/2022 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
+ Chị Hoàng Thị Thanh A, sinh năm 1988.
Nơi cư trú: Số 80, ngõ 528, đường Bạch Đằng, tổ 41, phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. (có mặt)
- Người làm chứng:
+ Anh Trần Trung X, sinh năm 1983.
Nơi cư trú: Số 80, ngõ 528, đường Bạch Đằng, tổ 41, phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. (có mặt)
+ Anh Trần Đức V, sinh năm 1986. (có mặt)
+ Ông Trần Xuân V, sinh năm 1950. (có mặt)
+ Bà Đào Thị Thúy Q, sinh năm 1950. (có mặt)
+ Chị Lương Thị D, sinh năm 1985. (có mặt)
+ Bà Trần Thị E, sinh năm 1951. (vắng mặt)
+ Ông Trần Văn G, sinh năm 1962. (có mặt)
Đều có nơi cư trú: thôn Y, xã DC, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài Q có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mâu thuẫn từ trước giữa gia đình Trần Đình H với gia đình ông Trần Xuân V. Vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 24/7/2022, anh Trần Đình V (là con trai H) đứng ở sân Aợng của gia đình chửi gia đình ông V. Khi nhìn thấy vợ chồng anh Trần Trung X và chị Hoàng Thị Thanh A (là con trai, con dâu của ông V) đi chơi về đến cổng, anh V nói “Hôm nay cả họ, cả nhà, cả lũ chúng mày về để tao chửi cho chúng mày nghe xem bố mẹ mày ở nhà như thế nào” và chửi anh X “ thằng con hoang”. Bị anh V xúc phạm, anh X và chị A nói “nhà tao không động đến nhà mày thì mày đừng động đến nhà tao”. Cùng lúc này, H dắt xe đạp phía sau chở cháu Trần Thanh Mai (con anh V và là cháu nội của H) đi từ phía trong làng Y về gần tới cửa nhà, chị A chỉ tay vào H và cháu Mai nói “Đây mới là con hoang”. Thấy vậy, H hỏi A “tao làm gì mà mày chửi tao?”, hai bên lời qua tiếng lại với nhau. H dựng xe đạp ở đường chạy về phía ghế đá gần đó tay pV cầm 01 cục bê tông màu xám, bề mặt gồ ghề, không rõ hình dạng, kích Aớc khoảng (05 x 07 x 04) cm đi đến chỗ chị A. Trong lúc H đi lấy cục bê tông, chị A chạy đến dùng hai tay giữ vào vùng vai của cháu Mai, nghĩ chị A túm cổ cháu Mai, H cầm cục bê tông trên đi về phía chỗ chị A đang đứng thì bị anh X dùng tay trái túm cổ áo H kéo về phía sau. Lúc này, anh V chạy từ trong nhà ra, giữa anh X và anh V xảy ra xô xát, anh X dùng tay đẩy anh V, cả hai cùng ngã xuống đường, anh X vật đè, ghì anh V xuống chân tường gần đó, anh V cắn vào khủy tay trái anh X gây rách da chảy máu. H tiến lại phía sau chị A, tay pV cầm cục bê tông trên đập 03 đến 04 nhát trúng vào vùng đầu, thái dương bên pV chị A làm rách da, chảy máu. Chị A buông tay ra khỏi người cháu Mai, H bế cháu Mai trên tay, chị A lao vào xô đẩy làm H và cháu Mai ngã ra đường, mọi người can ngăn nên sự việc chấm dứt. Hậu quả chị A bị Aơng tích vùng thái dương pV, pV đi khám và điều trị tại Bệnh viện đa khoa Hưng Hà, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình từ ngày 24/7/2022 đến ngày 25/7/2022 thì xuất viện.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về Aơng tích số 308/22/TgT ngày 11/8/2022 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Thái Bình, kết luận: Tổn Aơng do vật tày tác động làm rách da, tổ chức dưới da vùng đầu, chấn động não. Tỷ lệ tổn Aơng cơ thể do Aơng tích gây nên tại thời điểm giám định là 09% (chín phần trăm).
Về vật chứng: 01 chiếc áo thun ngắn tay, màu xám, bị rách rời phần thân bên trái, trên áo có dính chất màu nâu; 01 áo thun ngắn tay màu trắng, mặt trước áo có in chữ LEVIS, trên áo có bám dính nhiều chất màu nâu đỏ; 01 cục bê tông màu xám, bề mặt gồ ghề, lồi lõm, chất Q rắn chắc, kích Aớc (12 x 6,5 x 2,5) cm; 01 cục bê tông màu xám, bề mặt gồ ghề, lồi lõm, chất Q rắn chắc, kích Aớc (14 x 5,5 x 2,2) cm.
Về trách nhiệm dân sự: Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị hại Hoàng Thị Thanh A không yêu cầu bị cáo pV bồi Aờng do sức khỏe bị xâm hại.
Ngày 13 tháng 9 năm 2022 bị cáo đã tự nguyện nộp 3.000.000 đồng và ngày 09 tháng 12 năm 2022 bị cáo đã tự nguyện nộp thêm 3.000.000 đồng. Tổng cộng bị cáo đã nộp 6.000.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hưng Hà để bồi Aờng thiệt hại về sức khỏe cho chị A.
Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Trần Đình H đã khai nhận toàn bộ hành vi và diễn biến sự việc như đã nêu trên.
Bị hại chị Hoàng Thị Thanh A vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi tố và đề nghị Hội đồng xét xử xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật.
Cáo trạng số 96/CT-VKSHH ngày 31/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Trần Đình H về tội: "Cố ý gây Aơng tích" theo tại điểm a, khoản 1, điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Đình H phạm tội "Cố ý gây Aơng tích". Về hình phạt áp dụng điểm a khoản 1 điều 134; điểm b, i, s, khoản 1, khoản 2, điều 51; điều 50; điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Đình H mức án từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 01 năm đến 01 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Về trách nhiệm dân sự bị hại Hoàng Thị Thanh A không yêu cầu bị cáo pV bồi Aờng do sức khỏe bị xâm hại nên không đặt ra giải quyết. Về xử lý vật chứng áp dụng điều 47 Bộ luật Hình sự; điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc áo thun ngắn tay, màu xám, bị rách rời phần thân bên trái, trên áo có dính chất màu nâu; 01 áo thun ngắn tay màu trắng, mặt trước áo có in chữ LEVIS, trên áo có bám dính nhiều chất màu nâu đỏ; 01 cục bê tông màu xám, bề mặt gồ ghề, lồi lõm, chất Q rắn chắc, kích Aớc (12 x 6,5 x 2,5) cm; 01 cục bê tông màu xám, bề mặt gồ ghề, lồi lõm, chất Q rắn chắc, kích Aớc (14 x 5,5 x 2,2) cm và trả lại bị cáo số tiền 6.000.000 đồng đã nộp để khắc phục hậu quả nhưng do bị hại không yêu cầu pV bồi Aờng. Bị cáo pV chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định.
Bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đã truy tố và không G luận gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài Q có trong hồ sơ vụ án đã được G tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục, đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người làm chứng không có ý kiến hay kX nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của bị hại, của người làm chứng, phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường, Sơ đồ hiện trường, Bản kết luận giám định pháp y về Aơng tích cũng như các tài Q khác có trong hồ sơ vụ án.
Xét thấy lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, phù hợp với các chứng cứ khác về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 24/7/2022, tại thôn Y, xã DC, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, bị cáo có hành vi tay pV cầm 01 cục bê tông màu xám, bề mặt gồ ghề, không rõ hình dạng, kích Aớc khoảng (05 x 07 x 04) cm là hung khí nguy hiểm đập 03 đến 04 nhát vào vùng thái dương pV của chị Hoàng Thị Thanh A gây Aơng tích. Tỷ lệ tổn Aơng cơ thể do Aơng tích gây nên tại thời điểm giám định là 09% (chín phần trăm).
Hành vi trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây Aơng tích” theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 134 Bộ luật hình sự, thuộc trường hợp “dùng hung khí nguy hiểm”.
Điều 134: Tội có ý gây Aơng tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
"1. Người nào cố ý gây Aơng tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn Aơng cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a, Dùng vũ khí, vật Q nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;
...
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó cần xử lý nghiêm để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong quá trình điều tra vụ án và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s, khoản 1, khoản 2, điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không pV chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại điều 52 Bộ luật hình sự. Căn cứ Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao D dẫn về việc áp dụng điều 65 về án treo của Bộ luật Hình sự thì bị cáo đủ điều kiện để xem xét cho hưởng án treo cũng có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên tòa bị hại chị Hoàng Thị Thanh A không yêu cầu bị cáo pV bồi Aờng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Ngày 13 tháng 9 năm 2022 bị cáo đã tự nguyện nộp 3.000.000 đồng và ngày 09 tháng 12 năm 2022 bị cáo đã tự nguyện nộp thêm 3.000.000 đồng. Tổng cộng bị cáo đã nộp 6.000.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hưng Hà để bồi Aờng thiệt hại về sức khỏe cho bị hại nhưng tại phiên tòa bị hại không yêu cầu bị cáo pV bồi Aờng về trách nhiệm dân sự nên cần trả lại cho bị cáo số tiền này.
Về xử lý vật chứng: 01 cục bê tông màu xám, bề mặt gồ ghề, lồi lõm, chất Q rắn chắc, kích Aớc (12 x 6,5 x 2,5) cm; 01 cục bê tông màu xám, bề mặt gồ ghề, lồi lõm, chất Q rắn chắc, kích Aớc (14 x 5,5 x 2,2) cm đây là vật chứng của vụ án và không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy; 01 chiếc áo thun ngắn tay, màu xám, bị rách rời phần thân bên trái, trên áo có dính chất màu nâu của bị cáo; 01 áo thun ngắn tay màu trắng, mặt trước áo có in chữ LEVIS, trên áo có bám dính nhiều chất màu nâu đỏ của bị hại, tại phiên tòa bị cáo và bị hại không đề nghị xin lại vì không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo pV nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 điều 134; điểm i, s, khoản 1, khoản 2, điều 51; điều 50; điều 65; điều 47 Bộ luật Hình sự; điều 106; điều 135; điều 136; điều 331; điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điều 21; điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Đình H phạm tội “Cố ý gây Aơng tích”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Đình H 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 09/12/2022.
Giao bị cáo Trần Đình H cho UBND xã DC, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 2, điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo pV chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về trách nhiệm dân sự: Trả lại bị cáo Trần Đình H số tiền 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng) đã nộp tại biên lai thu tiền số 0001333 ngày 13/9/2022 và tại biên lai thu tiền số 0001351 ngày 09/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
4. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 cục bê tông màu xám, bề mặt gồ ghề, lồi lõm, chất Q rắn chắc, kích Aớc (12 x 6,5 x 2,5) cm; 01 cục bê tông màu xám, bề mặt gồ ghề, lồi lõm, chất Q rắn chắc, kích Aớc (14 x 5,5 x 2,2) cm; 01 chiếc áo thun ngắn tay, màu xám, bị rách rời phần thân bên trái, trên áo có dính chất màu nâu; 01 áo thun ngắn tay màu trắng, mặt trước áo có in chữ LEVIS, trên áo có bám dính nhiều chất màu nâu đỏ.
(Vật chứng nêu trên Cơ quan điều tra đã chuyển sang Chi cục thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình ngày 02/11/2022).
5. Về án phí: Bị cáo H pV nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 09/12/2022).
Nơi nhận:
| - Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình; - VKSND tỉnh Thái Bình; - Phòng PV06, PC10, PC11; - VKSND huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình; - Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình; - THADS huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình; - Sở tư pháp tỉnh Thái Bình; - Bị cáo, bị hại; - Lưu: Hồ sơ, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Vũ Quốc Khánh |