- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "anh T ly hôn chị L"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Trương Văn T. Ông Trương Văn T được ly hôn bà Võ Thị L.
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 99/2022/HNGĐ-ST Ngày 27-6-2022 V/v “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con giữa ông T với bà L”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Thi.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Tuyết Hồng.
2. Ông Hà Quốc Sử
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L tham gia phiên tòa: Ông Dương Chí Thanh – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố L xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 122/2022/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 184/2022/QĐXXST–HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trương Văn T, sinh năm 1991 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Số 863/7A, khóm Tây Khánh 6, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
- Bị đơn: Bà Võ Thị L, sinh năm 1991 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số 863/7A, khóm Tây Khánh 6, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
NHẬN THẤY:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 25 tháng 02 năm 2022 và trong quá trình hòa giải nguyên đơn ông Trương Văn T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Vợ chồng do quen biết, tiến tới hôn nhân vào năm 2009 và có đăng ký kết hôn tại UBND phường M, thành phố L, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 239, ngày 12/10/2011.
Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng dần về sau phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cãi vã, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Nay nhận thấy tình cảm không còn xin được ly hôn với bà L.
Về con chung: Có 02 con chung tên Trương Thị Nhân Ái, sinh ngày 13/6/2010 và Trương Ngọc Nhân, sinh ngày 30/12/2011, hiện các cháu đang chung sống với ông T, ông yêu cầu được trực tiếp nuôi các cháu.
Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu Tòa án giải quyết cấp dưỡng nuôi con.
Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn bà Võ Thị L vắng mặt toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, không gửi văn bản trình bày ý kiến.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn bà L vắng mặt không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Đối với nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Đối với bị đơn Tòa án đã triệu tập hợp lệ, tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và các văn bản tố tụng khác nhưng vẫn vắng mặt không lý do là chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về con chung: Ông T và bà L có 02 con chung tên Trương Thị Nhân Ái, sinh ngày 13/6/2010 và Trương Ngọc Nhân, sinh ngày 30/12/2011. Đề nghị giao 02 cháu cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng. Ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị không xem xét.
- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét.
- Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định pháp luật.
Tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án: Các giấy tờ chứng minh tư cách chủ thể của ông T; Giấy chứng nhận kết hôn; Biên bản xác minh tình trạng cư trú của bà Võ Thị L.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Tranh chấp của các đương sự là về ly hôn, bị đơn có địa chỉ thường trú tại địa bàn thành phố L, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố L tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Đối với bị đơn Võ Thị L: Tại Biên bản xác minh ngày 15 tháng 4 năm 2022 thể hiện có đăng ký hộ khẩu thường trú tại phường M, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 và tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng đúng quy định mà vẫn vắng mặt không lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan; nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp quy định pháp luật tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông T, bà L chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, phù hợp quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, là hôn nhân hợp pháp làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng trong thời k hôn nhân. Ông T khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà L do vợ chồng chung sống không hạnh phúc, vợ chồng ly thân từ năm 2020 cho đến nay.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án mở các phiên hòa giải để hòa giải, động viên đoàn tụ nhưng bà L vắng mặt không lý do, không gửi văn bản trình bày ý kiến, bỏ mặc cho ông T tự giải quyết, không quan tâm đến việc hàn gắn quan hệ vợ chồng. Xét, mối quan hệ vợ chồng là mối quan hệ gắn bó lâu dài và bền vững, vợ chồng phải thương yêu chăm sóc lẫn nhau, cùng nhau xây dựng cuộc sống gia đình hạnh phúc. Vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, sống chung với nhau, nhưng ông bà ly thân đã lâu, ông bà đã vi phạm quyền và nghĩa vụ của vợ chồng trong thời k hôn nhân làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên ông T yêu cầu ly hôn là có cơ sở. Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông T đối với bà L.
[2.2] Về con chung: Ông T và bà L có 02 con chung tên Trương Thị Nhân Ái, sinh ngày 13/6/2010 và Trương Ngọc Nhân, sinh ngày 30/12/2011. Hiện các cháu đang do ông T chăm sóc nuôi dưỡng, ông T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng các cháu.
Từ khi ly thân đến nay ông T là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Ái và cháu Nhân, bà L không cùng ông T nuôi dưỡng các cháu. Ông T có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng các cháu, các cháu có nguyện vọng được sống chung với ông T. Xét, yêu cầu của ông T, nguyện vọng của các cháu, để đảm bảo sự phát triển về mọi mặt của các cháu, tạo điều kiện cho các cháu được ổn định tinh thần, sinh sống và học tập, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông T, giao cháu Ái, cháu Nhân cho ông T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp quy định pháp luật tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Ông Trương Văn T cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở bà Võ Thị L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Ái, cháu Nhân. Vì lợi ích của trẻ em theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Ông Trương Văn T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0001111 ngày 28 tháng 3 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố L.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Trương Văn T. Ông Trương Văn T được ly hôn bà Võ Thị L.
Giấy chứng nhận kết hôn số 239, ngày 12 tháng 10 năm 2011 của Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, cấp cho ông Trương Văn T và bà Võ Thị L không còn giá trị pháp lý.
2. Về con chung:
2.1. Ông Trương Văn T và bà Võ Thị L có 02 con chung tên Trương Thị Nhân Ái, sinh ngày 13/6/2010 và Trương Ngọc Nhân, sinh ngày 30/12/2011, hiện các cháu đang chung sống với ông T.
2.2. Giao 02 con chung tên Trương Thị Nhân Ái, sinh ngày 13/6/2010 và Trương Ngọc Nhân, sinh ngày 30/12/2011 cho ông Trương Văn T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Ông Trương Văn T cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở bà Võ Thị L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Ái, cháu Nhân. Vì lợi ích của trẻ em theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Trương Văn T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
5. Về án phí: Ông Trương Văn T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0001111 ngày 28 tháng 3 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố L.
6. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND TPLX; - Chi cục THADS TPLX; - UBND phường M, LX; - Các đương sự (để thi hành); - Lưu HS, VP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Hà Quốc Sử Nguyễn Thị Tuyết Hồng THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Văn Sơn Lê Thị Thanh Vân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hồng Thi THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hồng Thi THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hồng Thi |