- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H với anh Trương Hoài P.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 99/2022/HNGĐ-ST Ngày: 12-9-2022. V/v tranh chấp về ly hôn và nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Vân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thanh Văn;
2. Ông Hồ Huy Cường.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Mỹ Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Chí Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 216/2022/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2022 về tranh chấp ly hôn và nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 7 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 49/2022/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm: 1990.
Địa chỉ cư trú: Ấp L, xã H1, huyện D, tỉnh Tây Ninh.
Tạm trú: Ấp TB, xã M, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Trương Hoài P, sinh năm: 1990.
Địa chỉ cư trú: Ấp L, xã H1, huyện D, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 07 tháng 01 năm 2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh P tự tìm hiểu và chung sống với nhau vào năm 2009, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H1, huyện D, tỉnh Tây Ninh ngày 24/12/2010. Chị và anh P chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh P không lo làm ăn, không lo lắng gì cho vợ con, chị có khuyên can nhiều lần nhưng anh P vẫn không thay đổi, ngược lại vợ chồng thường xuyên bất đồng, cãi vã nhau. Đến khoảng năm 2018 chị và các con bỏ về nhà mẹ ruột ở ấp TB, xã M, huyện C, tỉnh Tây Ninh sống và ly thân với anh P cho đến nay. Trong thời gian ly thân hai anh chị vẫn không gặp nhau, không hòa giải hàn gắn gia đình được. Nay nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Trương Hoài P.
Về con chung: Chị và anh P có hai con chung tên Trương Anh V, sinh ngày 02/7/2010 và Trương Thị Tường V1, sinh ngày 09/8/2013. Khi ly hôn, chị yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị trình bày không có nên không đặt ra giải quyết.
Đối với bị đơn – Anh Trương Hoài P:
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý, thông báo kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhiều lần nhưng anh P không đến để trình bày theo yêu cầu của Tòa án cũng như không tham dự phiên hợp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử mặc dù qua xác minh, chính quyền địa phương cung cấp anh P vẫn còn hộ khẩu ở địa phương và biết sự việc này nhưng anh cố tình vắng mặt không lý do. Nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh P theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu tham gia phiên Tòa trình bày:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử: Thẩm phán, thư ký thụ lý giải quyết đúng thẩm quyền, việc thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn là anh Trương Hoài P đã được tống đạt giấy triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị H, anh P là đúng theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu chưa thấy vấn đề vi phạm tố tụng nên đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử theo quy định.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H, cho chị H được ly hôn với anh Trương Hoài P. Về con chung: Áp dụng Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 giao 02 cháu Trương Anh V, sinh ngày 02/7/2010 và Trương Thị Tường V1, sinh ngày 09/8/2013 cho chị H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, anh P không cấp dưỡng nuôi con do chị H không yêu cầu. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết. Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị H trình bày không có nên không đặt ra giải quyết. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Áp dụng Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 chị H phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh Trương Hoài P được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị H, anh P theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự là phù hợp theo quy định của pháp luật.
Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh P trên cơ sở tự nguyện và đi đến hôn nhân từ năm 2009 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã H1, huyện D, tỉnh Tây Ninh ngày 24/12/2010 nên hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Theo đơn khởi kiện chị H trình bày mâu thuẫn phát sinh là do bất đồng về quan điểm sống, anh P không lo làm ăn, không lo lắng gì cho vợ con nên vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Vợ chồng ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Mặt khác, anh P không chấp hành theo giấy triệu tập của tòa án, cố tình vắng mặt không đến, điều đó chứng tỏ anh không có thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị H. Do đó, căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, chị H được ly hôn với anh P là phù hợp.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Trương Hoài P có 02 người con chung tên Trương Anh V, sinh ngày 02/7/2010 và Trương Thị Tường V1, sinh ngày 09/8/2013. Hiện tại con chung đang sống chung với chị H. Khi ly hôn, chị H yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy: Hiện tại hai cháu V và cháu V1 đang sống chung với chị H, từ ngày ly thân cho đến nay chị H vẫn nuôi con tốt, bảo đảm nhu cầu vật chất, tinh thần cho con chung. Mặt khác, hai cháu đã trên 7 tuổi, qua làm việc hai cháu có nguyện vọng muốn được sống chung với chị H. Do vậy, cần giao hai cháu V và cháu V1 cho chị H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp theo quy định tại Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Anh Trương Hoài P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị H trình bày không có nên không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H với anh Trương Hoài P.
Chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Trương Hoài P.
2. Về con chung: Giao hai cháu Trương Anh V, sinh ngày 02/7/2010 và Trương Thị Tường V1, sinh ngày 09/8/2013 cho chị Nguyễn Thị H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh P không phải cấp dưỡng nuôi con do chị H không yêu cầu.
Anh Trương Hoài P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị H trình bày không có nên không đặt ra giải quyết.
5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình, khấu trừ tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0024252 ngày 22 tháng 4 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh. Chị Nguyễn Thị H đã nộp xong tiền án phí hôn nhân sơ thẩm
Anh Trương Hoài P không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Chị H, anh P có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Phòng NVKT.TAT; - VKSND huyện Gò Dầu; - Chi cục THA Gò Dầu; - UBND xã H1, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Vân |