vanban.org

Bản án 99/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Mạc Bích Ng và anh Nguyễn Thanh A.

Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Thùy K, sinh ngày 20-6-2012 cho chị Ng trực tiếp nuôi dưỡng, chị Ng không yêu cầu anh Acấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét. Anh Nguyễn Thanh A có quyền, ngh a vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Mạc Bích Ng khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với anh Nguyễn Thanh A"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Mạc Bích Ng và anh Nguyễn Thanh A.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 99/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 23-11-2022
V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tạ Thị Xuân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vũ Văn Hợp

2. Bà Trần Ngọc Ánh

Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Quyên – Thư ký Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên toà: Ông Lâm Sển - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 408/2022/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2022, về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2022/QĐXX-ST ngày 21 tháng 10 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 65/2022/QĐST-DS ngày 07 tháng 11 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Mạc Bích Ng, sinh năm 1993 (Có mặt)

Địa chỉ: Ấp T, xã M, huyện C, tỉnh Kiên Giang.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh A, sinh năm 1987

Địa chỉ: Ấp T, xã M, huyện C, tỉnh Kiên Giang.

(Vắng mặt không lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Mạc Bích Ng trình bày:

Về hôn nhân: Vào năm 2011, chị Ng và anh Nguyễn Thanh A quen biết và tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện C, tỉnh Kiên Giang và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 08-6-2012.

Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, thời gian sau vợ chồng luôn xảy ra mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày nên thường xuyên cãi nhau. Mặt khác, anh Athường xuyên ăn nhậu rồi về đuổi đánh vợ con, chị Ng đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên vợ chồng đã sống ly thân từ cuối năm 2019 cho đến nay. Hiện nay chị Ng không còn tình cảm với anh Anữa. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Ng yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Thanh A.

Về con chung: Chị Ng và anh Acó 01 con chung tên Nguyễn Thùy K, sinh ngày 20-6-2012, chị Ng yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu anh Acấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị Ng xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị Ng xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Thanh A: Không có ý kiến bằng văn bản theo Thông báo thụ lý vụ án của Tòa án và cũng không có mặt theo giấy triệu tập làm việc, Thông báo phiên họp và Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa của Tòa án.

Tại phiên tòa anh Avắng mặt.

* Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký: Thực hiện đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Thời hạn chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử: Đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn chị Mạc Bích Ng đối với bị đơn anh Nguyễn Thanh A.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghị án, Toà án nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Thanh A chưa có ý kiến xác nhận theo đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Mạc Bích Ng, Toà án đã làm đầy đủ thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng anh Avẫn vắng mặt không lý do. Tại phiên tòa nguyên đơn đồng ý xử vắng mặt bị đơn. Do vậy, căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Mạc Bích Ng và anh Nguyễn Thanh A chung sống với nhau vào năm 2012 trên cơ sở hôn nhân hoàn toàn tự nguyện và được UBND xã M, huyện C, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 08-6-2012, đây là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Mạc Bích Ng: Vợ chồng chị Mạc Bích Ng và anh Nguyễn Thanh A không còn thương yêu, quý trọng, quan tâm, chăm sóc và giúp đỡ nhau nữa, thể hiện qua lời trình bày của chị Ng tại Toà án: Chị Ng và anh Acó nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày nên thường xuyên cãi nhau. Mặt khác, anh Athường xuyên ăn nhậu rồi về đuổi đánh vợ con, chị Ng đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Chị Ng xác nhận hiện nay chị không còn tình cảm với anh Anữa. Chị Ng và anh Ađã sống ly thân từ đầu năm 2019 cho đến nay mà tình cảm vợ chồng vẫn không hàn gắn được. Toà án xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị Ng và anh Ađã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu của chị Ng xin ly hôn với anh Alà có căn cứ để chấp nhận.

Về nuôi con chung: Chị Mạc Bích Ng và anh Nguyễn Thanh A có 01 con chung tên Nguyễn Thùy Kh, sinh ngày 20-6-2012, chị Ng yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu anh Acấp dưỡng nuôi con vì chị có thu nhập ổn định, đủ điều kiện kinh tế nuôi con được.

Xét thấy, từ thời gian chị Ng và anh Asống ly thân cho đến nay, cháu K vẫn do một mình chị Ng chăm sóc, nuôi dưỡng tốt. Bên cạnh đó, cháu K cũng có nguyện vọng được ở với mẹ. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu của chị Ng được tiếp tục nuôi cháu K. Chị Ng không yêu cầu anh Acấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập anh Ađúng theo quy định pháp luật nhưng anh Avẫn vắng mặt không lý do. Vì vậy, Toà án không tiến hành hoà giải, đối chất về tài sản chung và nợ chung giữa anh Avà chị Ng được. Mặt khác, tại Toà án cũng như tại phiên toà chị Ng xác nhận trong thời gian chung sống cùng anh A, anh chị không tạo lập được tài sản gì và cũng không có nợ ai. Cho nên về phần tài sản chung và nợ chung Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này các đương sự có yêu cầu thì sẽ được giải quyết bằng vụ án khác theo quy định pháp luật.

Thống nhất ý kiến của Kiểm sát viên về quan điểm giải quyết vụ án như đã phân tích và nhận định trên.

Về án phí: Chị Ng là nguyên đơn trong vụ án, do đó chị phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm với số tiền là 300.000 đồng theo quy định tại Nghị quyết về án phí, lệ phí Toà án và tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 28, 147, 227, 228 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của U ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Mạc Bích Ng và anh Nguyễn Thanh A.

2. Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Thùy K, sinh ngày 20-6-2012 cho chị Ng trực tiếp nuôi dưỡng, chị Ng không yêu cầu anh Acấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Anh Nguyễn Thanh A có quyền, ngh a vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Do đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Mạc Bích Ng phải nộp 300.000 đồng nhưng chị Ng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0009610 ngày 08-8-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang, chị Ng không phải nộp thêm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền th a thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014”.

5. Quyền kháng cáo: Chị Mạc Bích Ng có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Thanh A vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ