vanban.org

Bản án 99/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị H được ly hôn anh Cao Văn Tr.

Về con chung: Giao cháu Cao Thu T, sinh ngày 18/6/2006 cho chị Bùi Thị H trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ tuổi thành niên. Anh Tr không phải cấp dưỡng nuôi con chung với chị H. Anh Tr có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.Vì quyền lợi của con, các đương sự có quyền khởi kiện về việc cấ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Bùi Thị H xin ly hôn anh Cao Văn Tr"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị H được ly hôn anh Cao Văn Tr.
  • Căn cứ chính? Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 99/2022/HNGĐ- ST
Ngày: 29/12/2022
V/v: Tranh chấp Ly hôn và nuôi
con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh

Các Hội thẩm nhân dân: ông Dương Đình Tài; ông Nguyễn Ngọc Tính

- Thư ký phiên tòa: ông Trịnh Minh Chữ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện C.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C: Bà Bùi Thị Bích – Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 12 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 90/TLST-HNGĐ, ngày 24 tháng 10 năm 2022,về tranh chấp “ Ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2022/QĐ XXST-HNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Bùi Thị H – Sinh năm: 1968

Trú tại: Thôn B, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt

Bị đơn: Anh Cao Văn Tr – Sinh năm 1962

Trú tại: Thôn Q,xã C, huyện C,tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn chị Bùi Thị H trình bày: Chị và anh Cao Văn Tr kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện. có đăng ký kết hôn ngày 22/7/2005 tại Ủy ban nhân dân xã C. Trong quá trình chung sống vợ chồng không hạnh phúc, thường xuyên mâu thuẫn nguyên nhân là do anh Tr không chịu khó làm ăn, từ năm 2009 anh Tr đã về nhà bố mẹ tại thôn Q,xã C để ở và không còn quan tâm gì đến chị và con nữa. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị được ly hôn anh Tr.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Cao Thu T – sinh ngày18/6/2006, chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T đến đủ tuổi thành niên không yêu cầu anh Tr cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, công nợ: Vợ chồng không có tài sản chung; không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Cao Văn Tr trong biên bản lấy lời khai ngày 8/11/2022 trình bày: Anh và chị Bùi Thị H kết hôn với nhau năm 2005, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C. Trong quá trình chung sống vợ chồng không hạnh phúc nên đã ly thân nhau từ năm 2009. Nay chị H đề nghị ly hôn anh nhất trí; Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Cao Thu T, sinh ngày 18/6/2006, anh nhất trí giao con cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ tuổi thành niên; Về tài sản: Vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo biên bản xác minh tại Ủy ban nhân dân xã C: Chị Bùi Thị H và anh Cao Văn Tr có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C và có 01 con chung là Cao Thu T sinh ngày 18/6/2006, cháu T đang là học sinh THPT C3 và sống cùng với chị H, còn anh Cao Văn Tr đã chuyển hộ khẩu về xã C. Mâu thuẫn vợ chồng thế nào chính quyền địa phương không nắm rõ vì anh chị không báo cáo chính quyền.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83- Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 228; Khoản 4 điều 147 – BLTTDS. Điểm a khoản 1 điều 24, điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Toà án. Đề nghị xử cho chị H được ly hôn anh Tr .Về con chung: Giao cháu Cao Thu T cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ tuổi thành niên, anh Tr không phải cấp dưỡng nuôi con chung với chị H; Về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét; Về án phí: chị H phải chịu án phí DSST.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa; căn cứ vào các quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử nhận định:

.Về thẩm quyền: Nguyên đơn chị Bùi Thị H và anh Cao Văn Tr đều có có hộ khẩu và hiện đang sinh sống tại huyện C, tỉnh Thanh Hóa. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C quy định tại điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

.Về quan hệ pháp luật: Đây là vụ án tranh chấp ly hôn và nuôi con được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

.Về thủ tục xét xử vắng mặt: Trong quá trình giải quyết vụ án anh Cao Văn Tr có đơn xin xét xử vắng mặt, nên Tòa án xét xử vắng mặt anh Tr theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về yêu cầu của nguyên đơn:

Về hôn nhân: Chị Bùi Thị H và anh CaoVăn Tr kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 – Luật hôn nhân gia đình.Trong quá trình chung sống, giữa chị H và anh Tr phát sinh mâu thuẫn và đã ly thân nhau từ năm 2009.Xét mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, nên yêu cầu giải quyết ly hôn của chị H là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 51; Điều 56 – Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung là cháu Cao Thu T - sinh ngày18/6/2006. Chị H và anh Tr đều thống nhất giao cháu T cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Do vậy, để ổn định tâm lý và điều kiện học tập cho cháu, nên giao cháu cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Chị H không yêu cầu anh Tr cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản, công nợ: Vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.

Về án phí: Chị H phải chịu án phí DSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 1 Điều 228; khoản 4 Điều 147; Điều 238; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 - Luật hôn nhân và gia đình. Điểm a khoản 1 Điều 24 điểm a khoản 5 điều 27 - NQ326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Toà án. Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị H được ly hôn anh Cao Văn Tr.

2. Về con chung: Giao cháu Cao Thu T, sinh ngày 18/6/2006 cho chị Bùi Thị H trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ tuổi thành niên. Anh Tr không phải cấp dưỡng nuôi con chung với chị H.

Anh Tr có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.Vì quyền lợi của con, các đương sự có quyền khởi kiện về việc cấp dưỡng và thay đổi người trực tiếp nuôi con chung.

Về án phí: Chị Bùi Thị H phải chịu 300.000đ án phí DSST được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0010393, ngày21/10/2022, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C. Chị H đã nộp đủ án phí.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Bùi Thị H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn anh Cao Văn Tr có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ