vanban.org

Bản án 99/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đoàn Thị Thanh T.

Cho chị Đoàn Thị Thanh T được ly hôn anh Nguyễn Văn M. Về con chung: không có nên không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đoàn Thị Thanh T ly hôn Nguyễn Văn M"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đoàn Thị Thanh T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẨM MỸ
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 99/2022/ HNGĐ - ST
Ngày: 20/12/2022
V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

---------

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ - TỈNH ĐỒNG NAI

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Trung

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Đức Dũng

2. Bà Vũ Thị Thuỳ Dương

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Thái Thị Vân – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: không tham gia.

Ngày 20/12/2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 343/2022/TLST–HNGĐ ngày 10/8/2022 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2022/QĐST-HNGĐ ngày 18/11/2022 và Quyết định hoãn phiên toà số 98/2022/QĐST-HNGĐ ngày 05/12/2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đoàn Thị Thanh T - Sinh năm 1982

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn M - Sinh năm 1975

Cùng địa chỉ: ấp 5, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai.

(Các đương sự vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn chị Đoàn Thị Thanh T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: chị và anh Nguyễn Văn M tự nguyện tìm hiểu và tiến đến hôn nhân, đăng ký kết hôn năm 2009 tại UBND xã S. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống không hạnh phúc thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Vợ chồng thường xuyên cãi nhau do vợ chồng không hợp nhau về tư tưởng và cách sống. Anh M thường xuyên chửi chị và cha mẹ chị, không cho chị về nhà cha mẹ ruột. Nay không thể chấp nhận cuộc sống vợ chồng được nữa nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh M.

Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có.

* Bị đơn anh Nguyễn Văn M vắng mặt nên không có lời khai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: chị Đoàn Thị Thanh T có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Văn M và anh M hiện đăng ký hộ khẩu tại xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai. Như vậy, đây là vụ án “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ.

Về tư cách tham gia tố tụng: chị T có đơn yêu cầu ly hôn anh M nên chị T là nguyên đơn, anh M là bị đơn trong vụ án.

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có đơn xin giải quyết và xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Nguyễn Văn M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng anh M vẫn vắng mặt. Do đó, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp.

Về quan hệ hôn nhân: chị T và anh M kết hôn theo đúng quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Sau khi kết hôn theo chị T thì anh chị chung sống không hạnh phúc thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Vợ chồng thường xuyên cãi nhau do vợ chồng không hợp nhau về tư tưởng và cách sống. Anh M thường xuyên chửi chị và cha mẹ chị, không cho chị về nhà cha mẹ ruột. Nay không thể chấp nhận cuộc sống vợ chồng được nữa nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh M. Anh M vắng mặt nên không có lời khai về mâu thuẫn vợ chồng. Mặt khác, Tòa án đã triệu tập anh M nhiều lần để giải quyết việc ly hôn nhưng anh M không đến làm việc nên nhận thấy anh M không mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét thấy, chị T không thể chung sống với anh M và anh M cũng không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị T nên anh chị không có khả năng hàn gắn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T.

Về con chung: không có.

Về tài sản chung: chị T khai không có nên không xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: chị T khai không có và cũng không có ai có đơn yêu cầu giải quyết về nợ chung nên không xem xét, giải quyết.

Về án phí: chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ các Điều 9 và Điều 11 luật Hôn nhân gia đình năm 2000; các Điều 56, 131 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng Án phí và Lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đoàn Thị Thanh T.

1. Cho chị Đoàn Thị Thanh T được ly hôn anh Nguyễn Văn M.

2.Về con chung: không có nên không xem xét.

4. Về tài sản chung: không xem xét, giải quyết.

5. Về nợ chung: không xem xét, giải quyết.

6. Về án phí: chị T phải chịu 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng án phí LHST nhưng được trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng tạm ứng án phí mà chị T đã nộp tại biên lai số 0001437 ngày 08/8/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai. Chị T đã nộp đủ án phí.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ