vanban.org

Bản án 99/2022/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 30/12/2022 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 30/12/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận êu cầu khởi kiện của ông Đ ng Văn T bà Ngu ễn Thị N đề nghị Tòa án công nhận 19,05 ha đất trồng rừng thuộc qu ền sử dụng của gia đình ông T bà N, đất tranh chấp tại xóm BV, xã HT, hu ện ĐH, tỉnh Thái Ngu ên thuộc QSD đất của Tổng Công t LN Việt Nam – Công t cổ phầ…

* Phần đất thứ nhất: Nằm ở thửa 30 tờ bản đồ địa chính số 1 xã HT = 25.687,5m2.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "DSPT Đặng Văn T - Tổng công ty LN Việt Nam"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận êu cầu khởi kiện của ông Đ ng Văn T bà Ngu ễn Thị N đề nghị Tòa án công nhận 19,05 ha đất trồng rừng thuộc qu ền sử dụng của gia đình ông T bà N, đất tranh chấp tại xóm BV, xã HT, hu ện ĐH, tỉnh Thái Ngu ên thuộc QSD đất của Tổng Công t LN Việt Nam – Công t cổ phầ…
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 100 Luật Đất đai; Điều 166 Luật Đất đai
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 99/2022/DS-PT
Ngày: 30-12-2022
V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất
và tài sản g n liền v i đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

Với thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

-Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hồng Phương

- Các Thẩm phán: Ông Hoàng Quý Sửu và ông Nguyễn Văn Quế

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Lương Thị Thúy Linh - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Hương Liên - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 12 năm 2022 và ngày 30 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 53/2022/TLPT- DS ngày 03/10/2022 về việc "Tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản g n iền v i đất".

Do bản án dân sự sơ thẩm số 19/2022/DSST ngày 05/8/2022 của Tòa án nhân dân hu ện Đồng H , tỉnh Thái Nguyên bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 77/2022/QĐ-PT ngày 03 tháng 11 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Đ ng Văn T, sinh năm 1976 Có m t

Bà Ngu ễn Thị N, sinh năm 1981 Có m t

Cùng trú tại: Xóm BV, xã HT, huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn:

- Ông Mai Tiến D, sinh năm 1977 Có m t

- Ông Tạ Quang T1, sinh năm 1983 Có m t

Đều là Luật sư Công t Luật TNHH ĐT - Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội. Điạ chỉ: Phòng 4518 Tòa C2 VinhomesD’ Capita e TDH, CG, Hà Nội.

2. Bị đơn:Tổng Công ty LN Việt Nam - Công ty cổ phần.

Địa chỉ trụ sở: Số 127 LĐ, phường ĐM, quận HBT, thành phố Hà Nội.

Đại diện theo pháp luật: Ông Lê Quốc K - Chức vụ Tổng giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Huy B, sinh năm 1980; Chức vụ hiện nay: Giám đốc Công ty LN Thái Nguyên - Chi nhánh của Tổng Công ty LN Việt Nam-Công ty cổ phần Có m t

(Theo Giấy Ủy quyền số 546/GUQ- TCT-PC &KSNB ngày 07/5/2020 của Tổng giám đốc Tổng Công ty

i t am- ng ty ổ ph n

3. Người làm chứng:

Ông Phạm Văn T2, sinh năm 1971 v ng m t ;

Nơi cư trú: Xóm BV, xã HT, huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên.

4. Người kháng cáo: Ông Đ ng Văn T và bà Ngu ễn Thị N là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm nguyên đơn và người bảo v quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Năm 1998, theo chủ trương chính sách của Nhà nư c, gia đình tôi được Lâm trường Đồng H giao cho 16,8 ha đất rừng tại tiểu khu 413 thôn BV, xã HT, hu ện ĐH, tỉnh Thái Ngu ên theo Hồ sơ giao đất rừng số 104 sổ xanh , đứng tên chủ hộ à chồng tôi ông Đ ng Văn T, để canh tác và trồng rừng. Trong đó, ô 2 Khoảnh 1 Tiểu khu 413 có diện tích 3,20 ha; Lô 7 Khoảnh 3 bằng 6,30 ha và Lô 1A Khoảnh 6 có diện tích bằng 7,30 ha. V i mỗi 1 ha rừng được giao, tôi phải trả cho Lâm trường Đồng H sau đâ gọi t t à “Lâm trường” 50.000 đồng, tổng cộng phải thanh toán à 840.000đ/16,8 ha. Tôi đã sử dụng toàn bộ diện tích đất trên từ thời điểm được giao đến hiện tại. Cụ thể chia thành 02 diện tích chính nằm ở hai khu vực v i quá trình sử dụng cụ thể như sau:

V i diện tích 9,5ha đất tại hai khoảnh: khoảnh 1 Lô 2 và khoảnh 3 Lô 7 Tiểu khu 413 thuộc Khe Cam : Gia đình tôi thực hiện trồng câ mỡ trên toàn bộ diện tích đất nà từ năm 1999. Thời điểm nà , do hoàn cảnh khó khăn, không có kinh phí àm rừng nên gia đình tôi thực hiện va vốn ngân hàng qua Lâm trường để trồng câ mỡ.

Năm 2007, sau khi câ đã trưởng thành, tôi có thực hiện tỉa thưa câ và trả cho Ngân hàng được ½ số vốn va .

Đến năm 2014, tôi thực hiện khai thác tr ng toàn bộ diện tích câ mỡ và trả cho ngân hàng hết số vốn va còn ại. Trư c khi khai thác tôi phải ký bảo bản thanh ý hợp đồng, trong bản thanh ý nà , vị trí thanh ý đất thuộc khoảnh 3 Lô 4 Tiểu khu 413, nhưng trên Hồ sơ giao đất rừng của vợ chồng tôi thì đất ại thuộc ô K1 ô 2 và K3 ô 7. Đồng thời úc nà , Chi nhánh của Tổng Công t à Công t LN Thái Ngu ên Sau đâ gọi t t à “Công t ” cũng buộc tôi phải ký vào các bản Hợp đồng tr ng, không có diện tích, không có số ô, số thửa cụ thể thì m i được thực hiện khai thác.

Đối v i diện tích 7,3 ha trong Hồ sơ giao đất rừng thuộc Lô 1A Khoảnh 6 còn ại thuộc Khe Con Rùa cách Khe Cam khoảng 4-5km : năm 2005 vợ chồng tôi m i thực hiện trồng câ keo và câ phấn trên đất.

Tại thời điểm năm 2005, xét thấ đất đai mình có ít không đủ àm mà diện tích đất rừng bỏ hoang, cỏ dại mọc còn nhiều, cho nên tôi cùng chồng tôi đã tự khai phá đất, bỏ vốn đầu tư trồng thêm được một ô rừng v i diện tích khoảng 10 ha cạnh đó. Tổng diện tích vợ chồng tôi sử dụng cả được giao và khai hoang thêm ở Khe Con Rùa nà khoảng 17,3ha. Vợ chồng tôi đã thực hiện trồng phấn trên diện tích 5 ha đất và còn ại khoảng 12,3ha ha trồng keo và bạch đàn. Vốn đầu tư hoàn toàn do vợ chồng tôi tự bỏ. Bên cạnh đó, để phục vụ quá trình trồng, chăm sóc và vận chu ển câ rừng, vợ chồng tôi phải tự bỏ vốn để mở đoạn đường dài khoảng 3km - 4km. Ngoài ra, tôi còn phải nộp thêm cho anh Trường - người có rừng bên cạnh rừng của tôi 10 triệu đồng vì ý do có một đoạn đường anh Trường đã bỏ tiền ra sửa đường trư c đó và tôi phải đóng góp để được đi chung. Sự việc nà được ập thành biên bản và có các hộ dân khác àm chứng.

Từ năm 2014 đến 2018, câ rừng trên cả hai diện tích đất nêu trên của tôi đến tuổi thu hoạch, do không đủ nhân ực để thu hoạch 01 ượt, vợ chồng tôi chia từng đợt để thực hiện khai thác tr ng rừng để trồng ại chu kỳ m i. Tu nhiên thời điểm này, UBND xã HT từ chối không àm thủ tục khai thác cho vợ chồng tôi mà buộc tôi phải àm việc v i Công t . Công t thì buộc vợ chồng tôi trư c khi khai thác phải ký vào các hợp đồng tr ng, không có ô, khoảnh, không có diện tích, không có ngà tháng, chỉ có mức giao khoán rất cao. Nếu không ký thì không thể thực hiện khai thác câ rừng. Do đó, vợ chồng tôi buộc phải ký vào các Hợp đồng tr ng nà . Các Hợp đồng nà Công t giữ và chỉ trả cho chúng tôi khi hết chu kỳ khai thác. Khi trả cho chúng tôi thì Hợp đồng đã điền diện tích theo đúng diện tích thực tế của gia đình tôi vừa khai thác, sử dụng.

Không dừng ại đó, vào năm 2016, Công t đã tự ý cho người vào toàn bộ diện tích đất của tôi để c m mốc và đo đạc v i ý do đất nà thuộc Công t và Công t đã được cấp Giấ chứng nhận qu ền sử dụng đất từ năm 2011. Trong khi đó, tôi à người trực tiếp canh tác trên đất từ rất âu ại không biết sự kiện nà .

Không đồng ý v i cách àm việc của Công t , tôi đã có đơn đề nghị UBND xã HT giải qu ết tranh chấp nhưng không thành. Sau nhiều ần hòa giải tại xã, năm 2018, UBND xã HT đã đề nghị Chi nhánh Tổng Công t à Công t LNThái Nguyên thực hiện đo hiện trạng để xác định rõ vị trí thửa đất đang tranh chấp của tôi.

Theo kết quả đo hiện trạng ngà 5/10/2018, diện tích tôi đang sử dụng tại khe Con Rùa là 17,3 ha và diện tích tại Khe Cam thực tế chỉ có 3,5 ha. Tổng diện tích tôi đang sử dụng tại cả hai khu vực à 20,8 ha rừng. Theo kết uận của Công t thì toàn bộ diện tích vợ chồng tôi đang sử dụng nêu trên đều thuộc bản đồ số 1 thửa 30 bản đồ giải thửa năm 2006 của UBND xã HT và Công t khẳng định phần đất nà Công t đã được cấp Giấ chứng nhận số BA 866776 vào 15/12/2011. Nhưng trong Giấ chứng nhận qu ền sử dụng đất của Công t ại không có sơ đồ thửa đất, không có ranh gi i xác định vị trí đất. Chúng tôi đã nhiều ần àm việc êu cầu Công t chứng minh phần diện tích đất nà nhưng Công t không đưa được căn cứ chứng minh.

Ngoài ra, vào tháng 08/2019, vợ chồng tôi được UBND xã HT thông báo Tổng Công t đang àm rà soát đề nghị cấp Giấ chứng nhận và UBND xã HT có niêm ết Danh sách diện tích đất đề nghị cấp Giấ chứng nhận của Công t tại trụ sở UBND xã HT từ ngà 12/08/2019 đến ngà 27/08/2019. Tu nhiên, theo Danh sách rà soát nà , cùng diện tích 3,5ha đất tại Khe Cam nêu trên của tôi, trư c được xác định thuộc bản đồ số 1 thửa 30 bản đồ giải thửa năm 2006 Công t đã được cấp Giấ chứng nhận năm 2011 thì na ại được xác định thuộc thửa 33 tờ bản đồ số 1 và hiện tại Công t m i đang xin cấp Giấ chứng nhận qu ền sử dụng đất. Do cách àm việc không rõ ràng, chồng chéo thông tin, xâm phạm trực tiếp đến qu ền ợi của vợ chồng tôi, ngà 03/09/2019, tôi đã àm đơn khởi kiện Tổng Công ty LN Việt Nam- Công t cổ phần ra Tòa án nhân dân hu ện Đồng H , tỉnh Thái Ngu ên đề nghị Tòa án hu ện Đồng H xác định: 1. Yêu cầu công nhận toàn bộ 20,8 ha rừng theo hiện trạng trích đo của Công t TNHH Hà ngu ên Châu đo vẽ do bà N trực tiếp dẫn đạc trong đó tại khe Con Rùa à 17,3 ha và diện tích tại Khe Cam thực tế chỉ có 3,5 ha, đất được Lâm trường Đồng H cấp sổ xanh và đất khai hoang thuộc qu ền sử dụng của vợ chồng tôi. Đồng thời xác định toàn bộ câ rừng trên đất thuộc qu ền sở hữu của tôi, tôi có toàn qu ền quản ý, khai thác và hưởng giá trị sản phẩm mang ại trên đất. 2. Hủ Giấ chứng nhận đăng ký qu ền sử dụng đất số BA 866776 củaTổng Công ty LN Việt Namđược cấp ngà 15/2/2011 3. Tu ên hủ tất cả các hợp đồng tôi bị Công t ép ký khống từ năm 2015. * Đại di n theo ủy quyền ủa Tổng Công ty

i t am - ng Phạm Huy B trình bày: Tổng Công t LN Việt Namkhông đồng ý v i những êu cầu khởi kiện của phía Ngu ên đơn ý do: Thứ nhất về nguồn gố đất: Là đất của Tổng Công t LN Việt Nam, thể hiện qua các văn bản sau: Tại qu ết định số 634/UB-QĐ ngà 08/12/1992 của UBND tỉnh B c Thái về việc thành ập Lâm trường Đồng H . Tại Qu ết định 3225/QĐ-UB Ngà 14/11/1998 của Ủ ban nhân dân tỉnh Thái Ngu ên về việc chu ển giao Lâm trường Đồng H về Tổng Công ty LN Việt Nam. Tại kết uận thanh tra số 1655/STNMT-TTr ngà 17/7/2009 của Sở Tài Ngu ên và Môi trường tỉnh Thái Ngu ển về việc chấp hành về đất đai đối v i Công ty LN Thái Nguyên. Tại Qu ết định số 320/QĐ-UBND ngà 15/02/2011 UBND tỉnh Thái Ngu ên phê du ệt về việc cấp giấ chứng nhận qu ền sử dụng đất cho công t TNHH MTV VDThái Nguyên nay là Công ty LNThái Nguyên - Công ty cổ phần v i diện tích à 12.919.860 m2 trên đất LN Công t được giao theo Qu ết định số 634/UB-QĐ ngà 08/12/1992 của UBND tỉnh B c Thái và kết uận thanh tra số 1665/STNMT – TT ngà 17/7/2009 của Sở Tài Ngu ên và Môi trường tỉnh Thái Ngu ên. Thứ hai, về vi hợp đồng giao khoán: Căn cứ biên bản àm việc ngà 05/10/2018 giữa Công t LNThái Nguyên, UBND xã HT và Hộ nhận khoán ông Đ ng Văn T, bà Ngu ễn Thị N, tổng diện tích hộ ông Đ ng Văn T đang canh tác trên đất của Công t LN Thái Ngu ên quản ý là 34,74 ha, trong đó công t dự kiến trả về địa phương 0,74 ha và giữ ại sử dụng sau cổ phần hóa 34,00 ha. Có hợp đồng giao khoán từ năm 2015 đến hết năm 2018 có 24,15ha cụ thể:

Tại Hợp đồng số 12 ngà 10/02/2015 tiểu khu 195 khoảng 5 ô B14 có diện tích 9,5ha; Tại hợp đồng số 31 ngà 06/6/2016 tại tiểu khu 195 khoảnh 1 ô C20 diện tích 3,9ha; Lô C56 khoảnh 8b diện tích 1,3ha; Lô C 22 khoảnh 5 diện tích 1,7ha; Tại Hợp đồng số 21 ký ngà 09/02/2017 tại Tiểu khu 195 khoảnh 5 ô D8 có diện tích 3,7ha và lô D7 có diện tích 1,5ha; Tại Hợp đồng số 56 ký ngà 28/2/2018 tiểu khu 195 khoảnh 5 ô E13 diện tích 2,1 ha tại tiểu khu 195 khoảnh 11b Lô E34 diện tích 0,45ha diện tích chủ hộ ấn chiếm tự đầu tư có diện tích 9,85ha

Sau khi Tòa án đi thẩm định và định giá tài sản thì chủ hộ đã tự ý khai thác vận chu ển sản phẩm. Tại Hợp đồng số 12 ký ngà 10/02/2015 tiểu khu 195 khoảng 5 ô B14 có diện tích 9,5ha; và Hợp đồng số 31 ngà 06/6/2016 tại tiểu khu 195 khoảnh 5 ô C22 diện tích 1,7ha chủ hộ đã tự ý khai thác vận chu ển sản phẩm. Về nội dung nà đề nghị chủ hộ đã ký v i Công t thì chủ hộ phải thực hiện đúng v i nội dung đã ký trong hợp đồng nếu sai phải chịu trách nhiệm.

Đối v i các diện tích đất tự ấn chiếm và tự dầu tư đề nghị chủ hộ khai thác trả ại đất cho Công ty

Thứ ba, về êu cầu khởi kiện của ngu ên đơn: Nguyên đơn đưa ra êu cầu khởi kiện theo đơn khởi kiện ban đầu à công nhận qu ền sử dụng diện tích 31,38 ha theo buổi hòa giải ngà hôm na tại bản tự khai và ý kiến của ngu ên đơn thì anh Thái chị N xác định toàn bộ 20,8 ha rừng theo hiện trạng đo ngà 05/10/2018 trong đó có 10,8 ha đất được Lâm trường Đồng H cấp sổ xanh và 10 ha đất khai hoang thuộc qu ền sử dụng của gia đình chị N anh T. Đồng thời xác định toàn bộ câ rừng trên đất thuộc qu ền sở hữu của gia đình chị N anh T có toàn qu ền quản ý, khai thác và hưởng giá trị sản phẩm mang ại trên đất.

Tu nhiên, ngu ên đơn không xuất trình tài iệu về hiện trạng đo ngà 05/10/2018 để àm căn cứ cho êu cầu khởi kiện. Ngu ên đơn cũng không xuất trình căn cứ cũng như trong tài iệu kèm theo đơn khởi kiện không có bất kỳ văn bản nào thể hiện căn cứ chứng minh qu ền sử dụng đất của gia đình ông bà đối v i diện tích đất tranh chấp. Việc ký hợp đồng giao khoán dựa trên sự tự ngu ện của các bên và căn cứ trên nhu cầu của hộ dân thì Công t m i thực hiện ký kết hợp đồng giao khoán. Trong khi đó, Tổng Công t có toàn qu ền sử dụng, chiếm hữu và giao khoán trồng rừng đối v i diện tích đất tranh chấp cùng những căn cứ sử dụng hợp pháp như đã nêu trên. Do đó, êu cầu khởi kiện của ngu ên đơn à không có căn cứ.

Bởi những ẽ trên, Tổng công t đề nghị Tòa án bác toàn bộ êu cầu của ngu ên đơn ngu ên đơn về việc:

1. Công nhận diện tích 20,8 ha rừng theo hiện trạng đo ngà 05/10/2018 thuộc thửa số 182, tờ bản đồ số 4; thửa số 30, tờ bản đồ số 1, bản đồ giải thửa năm 2006 của xã HT và toàn bộ câ trên đất thuộc qu ền sử dụng, qu ền sở hữu của gia đình ngu ên đơn.

2. Hủ Giấ chứng nhận đăng ký qu ền sử dụng đất số BA 866776 của Tổng Công ty LN Việt Nam được cấp ngà 15/2/2011

3. Tu ên hủ tất cả các hợp đồng tôi bị Công t ép ký khống từ năm 2015 đến nay.

Tổng công t LN Việt Nam- Công t cổ phần có thiện chí hai bên thỏa thuận v i nhau. Đối v i phần diện tích bà N và ông Thái đang quản ý, sử dụng và phần đất ông bà Thái N đã nhận giao khoán v i Công t , phía Công t sẽ vẫn tạo điều kiện cho ông Thái và bà N được tiếp tục quản ý, sử dụng và khai thác nhưng ông Thái và bà N phải nộp sản ượng v i Công t theo các mô hình khoán như những hộ khác.

Tổng Công t LN Việt Nam không êu cầu Tòa án giải qu ết về diện tích đất theo nội dung của Hợp đồng giao nhận khoán, không êu cầu giải qu ết hậu quả của hợp đồng vô hiệu nếu có , không êu cầu phản tố đối v i êu cầu của Ngu ên đơn đề nghị giải qu ết các Hợp đồng giao khoán v i Công t mà Ngu ên đơn cho à bị ký khống. Nếu sau nà phát sinh tranh chấp iên quan đến việc thực hiện qu ền và nghĩa vụ trong Hợp đồng giao khoán thì Tổng Công t LN Việt Nam sẽ thực hiện qu ền khởi kiện vụ án riêng.

* Luật sư người bảo vệ qu ền và ợi ích hợp pháp của ngu ên đơn ông Mai Tiến Dũng, ông Tạ Quang Trang trình bà bản uận cứ:

Hồ sơ giao đất rừng của Lâm trường Đồng H hiện na người dân vẫn

chưa bị thu hồi. Phía Ngu ên đơn xác định năm 1998, theo chủ trương chính sách của Nhà nư c, gia đình tôi được Lâm trường Đồng H giao cho 16,8 ha đất rừng tại tiểu khu 413 thôn BV, xã HT, hu ện ĐH, tỉnh Thái Ngu ên theo Hồ sơ giao đất rừng số 104, 105 sổ xanh , đứng tên chủ hộ à chồng tôi ông Đ ng Văn T, để canh tác và trồng rừng. Trong đó, ô 2 Khoảnh 1 Tiểu khu 413 có diện tích 3,20 ha; Lô 7 Khoảnh 3 bằng 6,30 ha và Lô 1A Khoảnh 6 có diện tích bằng 7,30 ha và toàn bộ câ trên đất. Thời gian gần đâ công t m i c m mốc và êu cầu ký vào bản hợp đồng khai thác âm sản.

Hồ sơ giao đất, giao rừng nà thực chất à Hợp đồng giao khoán, hiện na

chưa bị thu hồi nên vẫn còn giá trị và ông Thái, bà N được qu ền sử dụng. Căn cứ Điều 6 Nghị định 135/2005/NĐ-CP ngà 08/11/2005 có qu định giao đất cho hộ gia đình, việc áp dụng Nghị định số 01-CP ngày 04/01/1995 của bị đơn à không đúng vì Nghị định nà chỉ áp dụng trong các doanh nghiệp Nhà nư c chứ không áp dụng cho các hộ gia đình. Theo Nghị định số 02-CP ngày 15/01/1994, thì các Hợp đồng giao khoán chỉ bị hủ khi có qu ết định thu hồi, nếu Hợp đồng giao khoán nà chưa có qu ết định của cơ quan Nhà nư c có thẩm qu ền thu hồi thì nó vẫn còn hiệu ực và thời hạn giao đất à 50 năm kể từ ngà nhận, nên Hồ sơ giao khoán nà chưa hết thời hạn. Việc cấp giấ chứng nhận qu ền sử dụng đất cho Công t TNHH MTV VDcủa UBND tỉnh Thái Ngu ên à không đúng qu định, vì không rà soát trư c khi cấp, Hồ sơ giao khoán vẫn đang có hiệu ực pháp uật, người dân vẫn đang sử dụng ổn định nếu muốn cấp giấ chứng nhận qu ền sử dụng đất cho bị đơn thì phải thu hồi. Đối v i cá nhân, hộ gia đình thì UBND hu ện phải tiến hành thu hồi Hồ sơ giao khoán nà thì m i đủ căn cứ để cấp giấ chứng nhận qu ền sử dụng đất cho bị đơn. Yêu cầu hủ các Hợp đồng giao khoán mà Ngu ên đơn đã ký v i v i Công ty LN do hợp đồng có dấu hiệu bị ép ký và ký khống, Công t cho người dân ký trư c, sau đó m i điền nội dung. Chữ ký à của người nhận khoán nhưng nội dung không được thỏa thuận, diện tích nhận khoán à ghi sau. Vì vậ đề nghị giám định chữ ký, giám định tuổi mực trong hợp đồng để xem xét ời trình bà của ngu ên đơn xác định ký hợp đồng trư c sau đó m i điền nội dung àm căn cứ hủ hợp đồng giao nhận khoán và công nhận QSD đất à của gia đình ông.

Công ty LN được cấp giấ chứng nhận qu ền sử dụng đất nhưng trong giấ

chứng nhận qu ền sử dụng đất không thể hiện có sơ đồ thửa đất, không có ranh gi i xác định vị trí đất nên người dân đang cho rằng việc cấp giấ chứng nhận sử dụng đất nà cấp chồng ấn vào diện tích đất của gia đình ông Thái đã sử dụng từ trư c.

Tòa án nhân dân hu ện Đồng H , tỉnh Thái Nguyên tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ. Theo kết quả đo vẽ của Công t TNHH Hà Nguyên Châu đo xác định diện tích tranh chấp gồm 2 phần, cụ thể:

* Phần đất thứ nhất

+ Nằm ở thửa 30 tờ bản đồ địa chính số 1 xã HT = 2.5687,5m2.

+ Nằm ở thửa 7 tờ bản đồ địa chính số 1 xã HT = 7.851,8m2.

+ Nằm ở thửa 8 tờ bản đồ địa chính số 1 xã HT = 6.730m2.

+ Nằm ở thửa 10 tờ bản đồ địa chính số 1 xã HT = 10.054,3m2.

+ Nằm ở thửa 11 tờ bản đồ địa chính số 1 xã HT = 109,6m2.

Diện tích đất tranh chấp theo hiện trạng = 50433.2 m2.

* Phần đất thứ hai

+ Nằm ở thửa 30 tờ bản đồ địa chính số 1 xã HT = 12.9623,7m2.

+ Nằm ở thửa 17 tờ bản đồ địa chính số 1 xã HT = 10.460,6m2.

Diện tích đất tranh chấp theo hiện trạng = 14.0084,3 m2.

Tổng diện tích: 190.517,5 m2, tương đương 19,05 ha.

Tại công văn số 1217/UBND-CNN$XD của UBND tỉnh Thái Ngu ên trả ời Tòa án về trình tự thủ tục cấp GCNQSD đất cho Công t LN Thái Nguyên Trư c à Công t TNHH Một thành viên VD Thái Nguyên) nay là Công ty LN Thái Ngu ên thuộc Tổng Công t LN Việt Nam- Công t cổ phần như sau:

+ Về trình tự, thủ tục, thẩm qu ền Cấp GCNQSD đất: Căn cứ qu định tại Khoản 1 Điều 52 Luật đất đai 2003; Điều 11,12,19 Nghị định 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009;

+ Về Nguồn gốc đất: Tổng công t LN Việt Namđược tiếp nhận ngu ên trạng Lâm trường Đồng H tại Qu ết định 3225/QĐ-UB ngà 14/11/1998 của UBND tỉnh Thái Ngu ên.

Trư c đâ Lâm trường Đồng H được thành ập và giao đất tại Qu ết định 634/UB-QĐ ngà 08/12/1992 của UBND tỉnh B c Thái na à tỉnh Thái Ngu ên , diện tích rừng và đất rừng được giao à 13.065 ha. Sau đó Lâm trường Đồng H đổi tên thành Công t LN Thái Ngu ên tại Qu ết định 231/QĐ-BNN ngày 20/01/1999 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn.

Ngày 28/01/2003 Công ty LNThái Ngu ên được đổi tên thành Công t VD Thái Ngu ên tại Qu ết định số 248/QĐ-BNN-TCCB của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn.

+ Việc cấp GCNQSD đất :

Sau khi nhận được hồ sơ xin cấp GCNQSD đất của Công t TNHH Một thành viên VD Thái Ngu ên, Văn phòng đăng ký QSD đất đã tiến hành kiểm tra hồ sơ và hiện trang sử dụng đất của Công t , trích ục bản đồ địa chính các thửa đất đề nghị cấp GCNQSD đất, xác nhận đủ điều kiện vào đơn xin cấp GCNQSD đất trình Sở Tài Ngu ên và Môi trường theo qu định.

Ngà 29/01/2011 Sở Tài Ngu ên và Môi trường tỉnh trình UBND tỉnh cấp GCNQSD đất cho Công t TNHH Một thành viên VD Thái Ngu ên tại tờ trình số 62/TTr-STNMT.

Ngày 15/02/2011 UBND tỉnh Thái Ngu ên ban hành Qu ết định số 320/QĐ-UBND về việc cấp GCNQSD đất cho Công t TNHH Một thành viên VD Thái Ngu ên tại xã HT, hu ện Đồng H đồng thời ký GCNQSD đất cho Công t , GCNQSD đất số BA 866776, BA 866531, BA 866527 và BA 866510 ngày 15/02/2011. Thành phần hồ sơ, trình tự thủ tục thực hiện việc cấp GCNQSD đất nêu trên cho Công t TNHH Một thành viên VD Thái Ngu ên à đúng qu định của pháp uật đất đai (Bút lục 326).

Trên cơ sở bản đồ sử dụng đất LN của Công t LN Thái Ngu ên do Sở Tài Ngu ên và Môi trường tỉnh Thái Ngu ên cung cấp và Bản trích đo hiện trạng (file số do Tòa án êu cầu Công t TNHH Hà Ngu ên Châu đo đạc .

Tại Công văn số 55/CV-HKL ngà 18/4/2022 cuả Hạt Kiểm âm hu ện Đồng H cung cấp: Căn cứ sơ đồ trích đo fi e số hiện trạng sử dụng đất của 11 hộ gia đình xã HT đang có tranh chấp v i Tổng Công t LN Việt Nam, Hạt kiểm âm đối chiếu v i Bản đồ qu hoạch 3 oại rừng do Hạt kiểm âm quản ý theo Qu ết định 1518/QĐ-UBND ngà 10/7/2014 của UBND tỉnh Thái Ngu ên về việc phê du ệt điều chỉnh qu hoạch 3 oại rừng tỉnh Thái Ngu ên năm 2013 đến năm 2020 thì khu vực trên về cơ bản đều thuộc Qu hoạch à rừng sản xuất, hiện trạng à rừng trồng; chỉ còn 1,0 ha theo hồ sơ trích đo của ông Thái à không nằm trong qu hoạch 3 oại rừng có sơ đồ đánh dấu vị trí trích đo nằm ngoài qu hoạch kèm theo văn bản nà . Còn nội dung xác định chủ quản ý theo vị trí à số thửa đất, số tờ bản đồ, diện tích từng thửa không thuộc đối tượng theo dõi của Hạt kiểm âm hu ện Đồng H .

Ngà 21/6/2022 Tòa án Đồng H gửi công văn số 490/2022 đề nghị UBND xã HT cung cấp thông tin, tài iệu về diện tích đất trả về địa phương khi Chi nhánh Tổng công ty LN Việt Nam - Công t cổ phần – Công ty LN Thái Ngu ên cổ phần hóa, việc quản ý đất của xã đối v i diện tích đất trả về địa phương; Cho biết việc các hộ dân có khai hoang đất ha không và có àm thủ tục để cấp GCNQSD đất đối v i diện tích khai hoang hay không?

Tại Công văn số 554/UBND ngà 04/7/2022 của UBND xã HT, hu ện Đồng H phúc đáp Công văn số 490/2022 ngà 21/6/2022 Tòa án nhân dân hu ện Đồng H như sau: Trư c khi cổ phần hóa, chi nhánh Tổng công t LN Việt Nam- Công t cổ phần - Công ty LN Thái Ngu ên đã trả về địa phương diện tích đất à 817,23 ha( 8.172,262 m2 đất trồng rừng sản xuất tại Qu ết định 1136/QĐ-UBND ngày 21/5/2015 của UBND tỉnh Thái Ngu ên về việc thu hồi đất do chi nhánh Tổng công ty LN Việt Nam – Công ty LN Thái Ngu ên tự ngu ện trả ại, giao đất cho UBND các xã: HT, Tân Lợi, Câ Thị, Văn Hán, Khe Mo hu ện Đồng H để quản ý theo qu hoạch. Toàn bộ diện tích đất trả về địa phương có biên bản bàn giao chỉ gi i do UBND tỉnh đã thu hồi của Công t LN Thái Ngu ên để giao cho UBND xã HT, hu ện Đồng H , tỉnh Thái Ngu ên quản ý theo qu hoạch ngà 03/6/2015.

Diện tích đất hiện na 11 Ngu ên đơn đang tranh chấp v i Công t LN Thái Ngu ên không nằm trong diện tích đất trả về địa phương mà hiện na địa phương đang quản ý.

Toàn bộ diện tích đất trả về địa phương hiện na UBND xã HT đã xâ dựng xong phương án giao đất, cho thuê đất theo qu định.

Đến thời điểm nà UBND xã HT không có hồ sơ ưu trữ ha các căn cứ pháp ý về việc công nhận nhân dân tự khai hoang diện tích đất rừng. Đối v i toàn bộ diện tích các hộ đang khởi kiện thì các hộ chưa có hồ sơ xin cấp GCNQSD đất ần nào.

V i nội dung trên,tại bản án dân sơ thẩm số 19/2022/DSST ngày 05/8/2022 của Tòa án nhân dân hu ện Đồng H , tỉnh Thái Ngu ên đã xét xử và quyết định:

Tuyên xử:

1.Không chấp nhận êu cầu khởi kiện của ông Đ ng Văn T bà Ngu ễn Thị N đề nghị Tòa án công nhận 19,5 ha đất trồng rừng và toàn bộ câ rừng trên đất thuộc qu ền sử dụng của gia đình ông T bà N đất tranh chấp tại xóm BV, xã HT, hu ện ĐH, tỉnh Thái Ngu ên thuộc QSD đất của Tổng Công t LN Việt Nam – Công t cổ phần. Vị trí đất tranh chấp có diện tích: 19,05ha thuộc xóm BV, xã HT, hu ện ĐH, tỉnh Thái Ngu ên:

* Phần đất thứ nhất

+ Nằm ở thửa 30 tờ bản đồ địa chính số 1 xã HT = 25.687,5m2.

+ Nằm ở thửa 7 tờ bản đồ địa chính số 1 xã HT = 7.851,8m2.

+ Nằm ở thửa 8 tờ bản đồ địa chính số 1 xã HT = 6.730m2.

+ Nằm ở thửa 10 tờ bản đồ địa chính số 1 xã HT = 10.054,3m2.

+ Nằm ở thửa 11 tờ bản đồ địa chính số 1 xã HT = 109,6m2.

Diện tích đất tranh chấp theo hiện trạng = 50433.2 m2.

* Phần đất thứ hai

+ Nằm ở thửa 30 tờ bản đồ địa chính số 1 xã HT = 129.623,7m2.

+ Nằm ở thửa 17 tờ bản đồ địa chính số 1 xã HT = 10.460,6m2.

Diện tích đất tranh chấp theo hiện trạng = 140.084,3 m2.

Tổng diện tích: 190.517,5 m2, tương đương 19,05 ha.

Vị trí đất tranh chấp theo bản bản thẩm định như sau:

+ Phía B c giáp v i đất nhà ông H đang sử dụng;

+ Phía Tâ giáp khe suối đường đi và đất bà Nh c.

+ Phía Đông giáp v i khe suối, đường đi và đất ông Hùng đang sử dụng;

+ Phía Nam giáp giáp khe suối đường đi và đất bà N2.

(Có bản trích đo hiện trạng thửa đất kèm theo do bà N dẫn đạc được Công t TNHH Hà Ngu ên Châu đo đạc

2. Không chấp nhận êu cầu khởi kiện của ông T bà N đề nghị Hủ Giấ chứng nhận Qu ền sử dụng đất số BA 866776 của Tổng Công t LN Việt Nam được UBND tỉnh Thái Ngu ên cấp ngà 15/2/2011 vị trí đất tại xã HT, hu ện ĐH, tỉnh Thái Ngu ên.

3. Không chấp nhận êu cầu khởi kiện của ông T, bà N đề nghị Tòa án buộc Tổng Công t LN Việt Nam, Công t LN Thái Ngu ên về việc ép ký hợp đồng từ năm 2015 chưa có số ượng, diện tích trư c khi khai thác và dừng thu khoán sản phẩm trái qu định trên toàn bộ diện tích đất tranh chấp.

4. Về chi phí tố tụng: Ông T, bà N phải chịu chi phí thẩm định tại chỗ đo đất bằng má và chi phí định giá tài sản, tổng số tiền 21.500.000 đồng. Ông bà đã thanh qu ết toán và chi phí xong.

5. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho ông T, bà N do ông bà có đơn đề nghị miễn án phí, hoàn cảnh khó khăn, sống ở vùng kinh tế khó khăn, được chính qu ền địa phương xác nhận.

Ngoài ra bản án còn tuyên quyền kháng cáo và nghĩa vụ thi hành án cho các đương sự theo qu định của pháp luật.

Ngày 08/8/2022, ông Đ ng Văn T và bà Ngu ễn Thị N có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xem xét hủ toàn bộ bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân hu ện Đồng H theo hư ng chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của ngu ên đơn.

Tại phiên toà phúc thẩm ngu ên đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ngu ên đơn có quan điểm tranh luận cho rằng:

Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, nguyên đơn có êu cầu Toà án hu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất UBND tỉnh Thái Nguyên cấp cho Công ty Lâm nghiệp, Toà án nhân dân huyện Đồng H không chuyển hồ sơ cho Toà án nhân dân tỉnh Thái Ngu ên, không đưa UBND tỉnh tham gia tố tụng để xem xét hu quyết định cá biệt à không đúng thẩm quyền qu định tại Điều 34 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 32 Luật tố tụng hành chính. Toà án cấp sơ thẩm không đưa UBND huyện Đồng H tham gia tố tụng v i tư cách à người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và UBND xã HT tham gia tố tụng v i tư cách à người làm chứng là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Ngu ên đơn êu cầu hủy các hợp đồng giao khoán đã ký kết v i Tổng công ty LN Việt Nam - Công ty cổ phần v i lý do bị ép ký khống, cấp sơ thẩm chưa àm rõ việc ký hợp đồng m i và hợp đồng cũ có trồng lấn ha không, ngu ên đơn có đề nghị trưng cầu giám định chữ ký trong hợp đồng giao khoán nhưng không được àm rõ. Phía ngu ên đơn đang sử dụng 190.517,5 m2, tương đương 19,5 ha (theo bản trích đo hiện trạng trong đó năm 2004 được Lâm trường Đồng H giao 16,8 ha đất trồng rừng cho đến nay chưa có văn bản nào hu bỏ quyết định của Lâm trường Đồng H . Thời hạn giao đất, giao rừng à 50 năm, năm 2011 UBND tỉnh Thái Nguyên cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất à không đúng, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.

Đề nghị Toà án cấp phúc thẩm hu toàn bộ án sơ thẩm để giải quyết lại theo qu định.

Đại diện bị đơn Tổng công ty LN Việt Nam – Công ty cổ phần xác định phần cây trồng trên đất ngu ên đơn ấn chiếm là của ngu ên đơn, ngu ên đơn có qu ền thu hoạch câ khi đến chu kỳ khai thác. Đối v i phần cây trên diện tích đất theo hợp đồng giao nhận khoán, khi đến chu kỳ khai thác sẽ giải quyết theo thoả thuận, cam kết trong hợp đồng giao khoán.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu quan điểm: Thẩm phán chủ tọa và Hội đồng xét xử tuân thủ đúng tố tụng. Về đường lối giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ngu ên đơn về phần yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất; sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 19/2022/DS-ST ngày 05/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đồng H , tỉnh Thái Nguyên, công nhận phần cây trồng trên phần đất ngu ên đơn ấn chiếm là của ngu ên đơn. Phần cây trồng trên đất theo hợp đồng giao nhận khoán các bên sẽ thực hiện theo cam kết thoả thuận trong hợp đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài iệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Đơn kháng cáo của nguyên đơn trong hạn luật định, đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm, được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung:

Xét kháng cáo của ngu ên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Về nguồn gố đất:

Lâm trường Đồng H được Ủy ban hành chính tỉnh B c Thái thành lập ngày 12/01/1973 theo Quyết định số 11/ TCCQ trên cơ sở hợp nhất âm trường Phúc Trìu và Lâm trường Trại Cau trực thuộc Ty LNB c Thái. Năm 1992 thành lập Lâm Trường Đồng H trực thuộc Sở LN B c Thái, tổng diện tích rừng và đất rừng được giao 13.065 ha. Năm 1998 UBND tỉnh Thái Ngu ên đã qu ết định chuyển Lâm trường Đồng H trực thuộc Sở LNvà Phát triển Nông thôn tỉnh Thái Nguyên về Tổng công ty LN Việt Namquản ý. Năm 1999 Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã qu ết định đổi tên Lâm trường Đồng H thành Công ty LN Thái Nguyên trực thuộc Tổng công ty LN Việt Nam. Năm 2003 sáp nhập Công ty vận tải và kinh doanh lâm sản Việt Trì vào Công ty LN Thái Nguyên và đổi tên Công ty LN Thái Nguyên thành Công ty VD Thái Ngu ên. Năm 2012 sáp nhập Công ty VD Thái Nguyên vào Tổng công ty LN Việt Nam. Tại Quyết định 121/QĐ/HĐTV-TCLĐ ngà 16/03/2012 đã qu ết định thành lập Chi nhánh Tổng công ty LN Việt Nam - Công ty LN Thái Nguyên

Diễn biến hình thành, biến động quyền sử dụng đất của Lâm trường Đồng H (nay là Tổng công ty LN Việt Nam, Công ty cổ phần) thể hiện theo các văn bản, quyết định: Quyết định số 634/QĐ-UBND ngày 08/12/1992 của UBND tỉnh Thái Nguyên quyết định về việc thành lập Doanh nghiệp nhà nư c Lâm trường Đồng H v i vốn rừng được cấp là 13.065ha; Quyết định số 3225/QĐ-UBND ngày 14/11/1998 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc chuyển giao Lâm trường Đồng H về Tổng công ty LN Việt Nam trên nguyên t c bàn giao nguyên trạng, ngu ên canh, ngu ên cư, v i tổng diện tích đất LN của Lâm trường là 11.553ha; Tại Kết luận thanh tra số 1655/STNMT-TTr ngày 17/7/2009 của Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Thái Nguyên kết luận việc chấp hành pháp luật về đất đai đối v i Công ty VD Thái Ngu ên đã kết luận qua kiểm tra đối soát tổng diện tích đất Công ty VD Thái Ngu ên thì đất LNcòn lại diện tích 10.099,96ha, nhưng thực tế quản lý và sử dụng 8.077,87ha đất lâm nghiệp; Quyết định số 320/QĐ-UBND Ngày 15/02/2011 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc cấp giấy chứng nhận cho Công ty TNHH MTV VD Thái Nguyên, tại xã HT, huyện Đồng H là 12.919.983,0m2 (1.292ha). Tại Công văn số 3231/UBND-NC ngày 21/11/2014 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc sử dụng đất sau khi cổ phần hóa của Công ty LN Thái Nguyên thì diện tích công t để lại khi thực hiện cổ phần hóa tại xã HT là 10.959.700m2 (1.095ha)

Năm 1998 khi chuyển giao Lâm trường Đồng H về Tổng công ty LN Việt Nam đã có Biên bản kiểm kê rừng và đất LN do Lâm trường Đồng H quản lý, diện tích đất của Lâm trường Đồng H có vị trí tứ cận: Phía B c giáp tuyến đường Linh Sơn đi La Hiên và Võ Nhai; Đông giáp huyện Võ Nhai, Tây giáp các xã Linh Sơn, Nam Hòa, HT, Tân Lợi; Nam giáp tỉnh Hà B c. Lâm trường nằm trên đất của các xã Khe Mo, Văn Hán, Câ Thị, HT và Tân Lợi bao gồm 04 phân trường I, II, III, IV có 15 tiểu khu 402A, 402B, 403, 404, 401, 407, 408A, 408B, 409, 410, 411B, 412, 413, 414, 416, tổng diện tích đất LN11.553ha.

Như vậ , có đủ căn cứ xác định đất có nguồn gốc của Lâm trường Đồng H được Nhà Nư c giao quản ý để thực hiện việc sản xuất, kinh doanh nghề rừng, có quyết định giao đất v i tổng diện tích đất được giao là 13.065 ha từ năm 1992. Trải qua các thời kỳ chuyển giao từ Lâm trường Đồng H đến nay là Chi nhánh Tổng công ty LN Việt Nam, Công ty cổ phần, diện tích đất được bàn giao nguyên trạng.

Về di n tí h đất đượ âm trường Đồng Hỷ giao đất, giao rừng và đất khai hoang:

Ngu ên đơn ông ông Đ ng Văn T và bà Ngu ễn Thị N xác định:

Năm 1998 ông Đ ng Văn T được Lâm trường Đồng H giao 16,8 ha đất rừng thuộc tiểu khu 413, thôn BV, xã HT, huyện Đồng H , tỉnh Thái Nguyên. Việc giao đất thông qua sổ giao đất giao rừng mang tên Đ ng Văn T. Vị trí đất rừng được giao tại lô 2 Khoảnh 1 Tiểu khu 413 có diện tích 3,20 ha; Lô 7 Khoảnh 3 bằng 6,30 ha và Lô 1A Khoảnh 6 có diện tích bằng 7,30 ha. Theo hợp đồng thì mỗi 1 ha rừng được giao, ông T phải trả cho âm trường Đồng H 50.000 đồng/1ha đất rừng. Năm 2005 gia đình ông T và bà N còn khai phá thêm đất rừng khoảng 10 ha. Tổng diện tích vợ chồng tôi sử dụng cả được giao và khai hoang thêm ở Khe Con Rùa này khoảng 17,3ha. Trên đất được giao và đất khai phá, từ năm 1998 đến nay, gia đình ông T bà N đã trồng các loại câ trên đất gồm: Cây mỡ, keo, bạch đàn và câ phấn và đã khai thác hết, trồng cây m i từ năm 2020. Tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bà N nhất trí kết quả đo vẽ do công ty TNHH Hà Nguyên Châu thực hiện theo bản trích đo hiện trạng đất ông T, bà N đang sử dụng là 190.517,5m2 tương đương 19,05ha, toàn bộ diện tích đất trên gia đình ông T, bà N đã trồng cây m i từ năm 2020.

Tại biên bản giao rừng và đất để trồng rừng ngày 20/5/1998 giao cho ông Đ ng Văn T 16,8ha, phần cuối biên bản có nội dung cam kết: Chủ rừng nhận đất phải trồng cây, nhận rừng phải quản lý, bảo v , hăm só để rừng luôn phát triển. Thực hi n đúng những điều đã am kết trong đơn. Giao đủ sản phẩm cho Nhà nướ khi được thu hoạ h theo quy định tại Điều 20+2 Quyết định số 08 của tỉnh.

Điều 11 khoản 2 của Qu định việc giao khoán đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, LN và nuôi trồng thu sản trong các doanh nghiệp Nhà nư c, ban hành kèm theo Nghị định số 01/CP ngày 04/01/1995 của Chính phủ, qu định: Thời hạn giao khoán đối với rừng phòng hộ, rừng đặc dụng là 50 năm; đối với rừng sản xuất thì theo chu kỳ kinh doanh.

Tại Quyết định giao đất giao rừng ngày 30/11/1993 Lâm trường Đồng H là Doanh nghiệp Nhà nư c được giao đất và đứng ra thực hiện giao khoán đất nhưng ại sử dụng mẫu giao đất giao rừng của UBND huyện Đồng H là không đúng qu định. Ngày 21/01/2005 Công ty VD Thái Ngu ên ban hành văn bản số 34/CTVD/CV yêu cầu các hộ trư c đâ được Lâm trường Đồng H giao đất, giao rừng bằng sổ Lâm bạ phải chuyển sang hình thức Hợp đồng giao khoán và thời hạn giao khoán theo chu kỳ kinh doanh là phù hợp qu định của pháp luật.

Điều 99 Luật đất đai năm 2013 và khoản 4 Điều 19 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngà 15/5/2014 qu định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai qu định các trường hợp không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác g n liền v i đất: 4. gười nhận khoán đất trong á n ng trường, lâm trường, doanh nghi p nông, lâm nghi p, ban quản lý rừng phòng hộ, ban quản lý rừng đặc dụng”

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ngu ên đơn cho rằng lâm trường Đồng H giao đất giao rừng cho ông Đ ng Văn T năm 1998, thời hạn giao đất à 50 năm, hiện nay hồ sơ giao khoán nà vẫn đang có hiệu lực, chưa bị cơ quan nhà nư c có thẩm quyền thu hồi, nên yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất cho ngu ên đơn à không có căn cứ chấp nhận.

Về vi nguyên đơn ho rằng di n tí h đất đã khai hoang:

Ông T và bà N cho rằng năm 2005 gia đình ông T tự khai hoang thêm khoảng 10ha, diện tích đất này là diện tích đất bỏ hoang, không có ai quản lý, sử dụng. Tu nhiên, ngu ên đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì cho việc khai hoang và kể từ khi khai hoang cho đến nay, ông T cũng không kê khai v i bất cứ cơ quan nào, không xin được khai hoang diện tích đất theo qu định tại Điều 103, 104 Luật đất đai năm 2003, qu định việc quản ý đất chưa sử dụng thuộc U ban nhân dân xã, phường, thị trấn có trách nhiệm quản lý, bảo vệ đất chưa sử dụng tại địa phương và đăng ký vào hồ sơ địa chính.

Theo qu định tại khoản 1 Điều 2 Thông tư 52/2014/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thì đất khai hoang à đất đang để hoang hóa, đất khác đã qu hoạch cho sản xuất nông nghiệp được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Văn bản trả lời của Hạt kiểm âm Đồng H , xác định hiện trạng sử dụng đất của 11 hộ gia đình đang tranh chấp trong đó có ông T, bà N, đều thuộc quy hoạch à đất rừng sản xuất, hiện trạng là rừng trồng. UBND xã HT xác định diện tích đất 11 hộ đang tranh chấp v i Tổng công ty LN Việt Namkhông nằm trong diện tích đất mà Công ty trả về cho địa phương theo Qu ết định 1136/QĐ-UBND ngày 21/5/2015 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc thu hồi đất. Hồ sơ địa chính các thời kỳ của xã HT không có hồ sơ ưu trữ ha các căn cứ pháp lý về việc công nhân, nhân dân tự khai hoang diện tích đất rừng. Không có việc người dân đến kê khai ho c xin được khai hoang đất đối v i diện tích đất của 11 hộ đang tranh chấp v i Công ty Lâm nghiệp.

Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ: Diện tích đất ông T và bà N đang tranh chấp v i Công ty LN Thái Nguyên, qua kết quả đo đạc theo chỉ dẫn của ông T và bà Đ thuộc thửa số 30; 07,08;10;11 và thửa 17 tờ bản đồ số 01 xã HT. UBND tỉnh Thái Nguyên cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Công ty TNHH MTV VD Thái Nguyên nay thuộc Tổng Công ty LN Việt Nam – Công ty cổ phần.

Từ những phân tích nêu trên thấy, Toà án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ngu ên đơn ông Đ ng Văn T và bà Ngu ễn Thị N đề nghị Toà án công nhận diện tích đất trồng rừng đang quản lý sử dụng à có căn cứ.

Về yêu cầu hu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:

Ngu ên đơn êu cầu Toà án hu Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất UBND tỉnh Thái Nguyên cấp cho Công ty VD Thái Nguyên nay là Tổng Công ty LN Việt Nam. Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ và những phân tích nêu trên thấy, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không trái pháp luật, không xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ án. Do không có căn cứ để hu quyết định cá biệt theo Điều 34 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án cấp sơ thẩm tiếp tục giải quyết vụ án à đúng thẩm quyền.

Về yêu cầu khởi kiện đề nghị Toà án công nhận tài sản là cây trồng trên phần đất tranh chấp:

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm đã giải thích cho bị đơn quyền yêu cầu phản tố, yêu cầu ngu ên đơn trả lại phần đất lấn chiếm và yêu cầu giải quyết nội dung các hợp đồng giao khoán đã ký v i ông Đ ng Văn T, nhưng bị đơn không có êu cầu, đề nghị gì.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị đơn xác định phần cây trồng trên đất ông T, bà N lấn chiếm của Công ty do ông T, bà N trồng, ông T, bà N tiếp tục được khai thác khi đến chu kỳ khai thác, Công ty không yêu cầu gia đình ông Thái phải nộp sản ượng. Đối v i cây trồng trên phần đất ông T đã ký hợp đồng giao khoán, thì sẽ thực hiện cam kết, thoả thuận trong hợp đồng giao khoán khi đến chu kỳ khai thác. Toà án cấp sơ thẩm bác yêu cầu của ngu ên đơn về việc công nhận tài sản là cây trồng trên đất à không đúng, cần sửa phần nội dung này trong quyết định của Bản án sơ thẩm.

Về án phí: Đương sự không phải chịu án phí phúc thẩm theo qu định của pháp uật.

Từ những phân tích nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận một phần kháng cáo của ngu ên đơn; Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 19/2022/DS-ST ngày 05/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đồng H , tỉnh Thái Nguyên

Áp dụng các Điều 166, 203; Điều 99, Điều 100 Luật đất đai năm 2013; khoản 4 Điều 19 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngà 15/5/2014 qu định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai; Điều 26 Luật thi hành án dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủ ban Thường vụ Quốc hội qu định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận êu cầu khởi kiện của ông Đ ng Văn T bà Ngu ễn Thị N đề nghị Tòa án công nhận 19,05 ha đất trồng rừng thuộc qu ền sử dụng của gia đình ông T bà N, đất tranh chấp tại xóm BV, xã HT, hu ện ĐH, tỉnh Thái Ngu ên thuộc QSD đất của Tổng Công t LN Việt Nam – Công t cổ phần. Vị trí đất tranh chấp có diện tích: 19,05 ha thuộc xóm BV, xã HT, hu ện ĐH, tỉnh Thái Ngu ên:

* Phần đất thứ nhất:

+ Nằm ở thửa 30 tờ bản đồ địa chính số 1 xã HT = 25.687,5m2.

+ Nằm ở thửa 7 tờ bản đồ địa chính số 1 xã HT = 78.51,8m2.

+ Nằm ở thửa 8 tờ bản đồ địa chính số 1 xã HT = 6.730m2.

+ Nằm ở thửa 10 tờ bản đồ địa chính số 1 xã HT = 10.054,3m2.

+ Nằm ở thửa 11 tờ bản đồ địa chính số 1 xã HT = 109,6m2.

Diện tích đất tranh chấp theo hiện trạng = 50.433,2 m2.

* Phần đất thứ hai

+ Nằm ở thửa 30 tờ bản đồ địa chính số 1 xã HT = 129.623,7m2.

+ Nằm ở thửa 17 tờ bản đồ địa chính số 1 xã HT = 10.460,6m2.

Diện tích đất tranh chấp theo hiện trạng = 140.084,3 m2.

Tổng diện tích: 190.517,5 m2, tương đương 19,05 ha.

Vị trí đất tranh chấp như sau:

+ Phía B c giáp v i đất nhà ông H đang sử dụng;

+ Phía Tâ giáp khe suối đường đi và đất bà N2.

+ Phía Đông giáp v i khe suối, đường đi và đất ông H đang sử dụng;

+ Phía Nam giáp giáp khe suối đường đi và đất bà N2.

( ó bản trí h đo hi n trạng thửa đất kèm theo do bà N dẫn đạ đượ

ng ty T HH Hà guyên hâu đo đạ )

2. Công nhận phần cây trồng trên diện tích đất 190.517,5 m2, tương đương 19,05 ha thuộc thửa số 30; 07; 08;10;11; 17 tờ bản đồ số 1 thuộc quyền sử dụng của ông Đ ng Văn T và bà Nguyễn Thị N. Ông T và bà N có nghĩa vụ khai thác cây trồng trên đất và thực hiện theo nội dung cam kết, thoả thuận trong hợp đồng giao khoán giữa ông Đ ng Văn T v i v i Công ty LN Thái Ngu ên khi đến chu kỳ khai thác. Nếu có tranh chấp thì giải quyết bằng vụ án khác nếu có yêu cầu.

3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đ ng Văn T và bà Ngu ễn Thị N đề nghị Hủy tất cả các hợp đồng giao khoán mà ông T, bà N cho rằng bị ép ký, bị ký khống từ năm 2015.

4. Không chấp nhận êu cầu khởi kiện của ông Đ ng Văn T và bà Ngu ễn Thị N đề nghị Hủ Giấ chứng nhận Qu ền sử dụng đất số BA 866776 của Tổng Công ty LN Việt Nam được UBND tỉnh Thái Ngu ên cấp ngà 15/2/2011.

5. Về chi phí tố tụng: Ông T, bà N phải chịu chi phí thẩm định tại chỗ đo đất bằng má và chi phí định giá tài sản, tổng số tiền 21.500.000 đồng. Ông bà đã thanh qu ết toán chi phí xong.

6. Về án phí sơ thẩm: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho ông T, bà N do ông bà có đơn đề nghị miễn án phí, hoàn cảnh khó khăn, sống ở vùng kinh tế khó khăn, được chính qu ền địa phương xác nhận.

Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Đ ng Văn T và bà Ngu ễn Thị N không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Trường hợp Bản án, Qu ết định được thi hành theo qu định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có qu ền thỏa thuận thi hành án, qu ền êu cầu thi hành án, tự ngu ện thi hành án ho c bị cưỡng chế thi hành án theo các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qu định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành./.

Cỡ chữ