vanban.org

Bản án 99/2021/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hải Châu, TP Đà Nẵng Tuyên án 17/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Nguyễn Văn H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bắt tạm giam, ngày 01/7/2021. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN Q.HẢI CHÂU CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Bản án số: 99/2021/HS-ST
Ngày 17-11-2021

NHÂN D

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Phú Cường

Ông Huỳnh Thanh Trà

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Đình Vui - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu tham gia phiên tòa: Ông Đinh Ngọc Vĩnh - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 80/2021/TLST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2021/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H (Tên gọi khác: Không); sinh ngày: 26/02/1998 tại Đà Nẵng; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ 26, phường H, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H (chết) và bà Văn Thị H, sinh năm: 1974; Gia đình có 03 người con, bị cáo là con thứ hai;

Tiền án: Không;

Tiền sự: Ngày 20/4/2021, bị Công an phường H, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 01/7/2021, đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận Hải Châu, có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Ông Lê Văn P, sinh năm: 1994. Nơi ĐKHKTT: Thôn Q, xã Đ, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Chỗ ở: 70 N, phường K, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.

Bà Trần Thị Thanh T1, sinh năm: 1974. Địa chỉ: K62/6 N, phường H, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.

Ông Hà Quốc K, sinh năm: 1958. Địa chỉ: 75 N, phường H, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông Lâm Quang Đ, sinh năm: 1995. Địa chỉ: K19/5 Lê Đình Thám, tổ 25, phường Hòa Thuận Đông, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.

Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm: 1986. Địa chỉ: K338/H16/3 P, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.

Ông Đặng Thành D, sinh năm: 1982. Địa chỉ: Thôn Bắc Vĩnh, xã Cam Hải Tây, huyện Cam Lâm, tỉnh K Hòa, vắng mặt.

Người làm chứng: Anh Trần Đức T3, sinh năm: 2003. Địa chỉ: K44/H27/2 Đ, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong thời gian từ tháng 3 đến tháng 6 năm 2021, Nguyễn Văn H nhiều lần trộm cắp xe mô tô, tài sản của người khác để làm phương tiện đi lại và bán lấy tiền tiêu xài, cụ thể:

Lần 1: Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 29/3/2021, H đi bộ đến dưới chân cầu T, phường H, quận Hải Châu nhờ Trần Đức T3 dùng xe đạp chở H đến khu biệt thự Đ, phường H, quận Hải Châu để mượn xe của bạn. Khi đến trước Resort the Blossom, H nói với T3 về trước, còn H đi vào bên trong phát hiện 01 chìa khóa xe Honda treo ở giá treo đồ dành cho nhân viên, H lấy chìa khóa trên đến tra vào xe mô tô hiệu Honda AirBlade, màu trắng – đen, biển số 92E1-293.04 của anh Lê Văn P thì mở được. H trộm xe mô tô trên để đi lại, đến ngày 02/4/2021 thì lo sợ bị phát hiện nên điều khiển xe mô tô trên để lại chổ cũ và nhờ Trần Đức T3 điều khiển xe đạp chở H về.

Theo Kết luận định giá tài sản số 34/KL-HĐĐG ngày 12/4/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND quận Hải Châu kết luận: Xe mô tô hiệu Honda AirBlade, màu trắng – đen, biển số 92E1-293.04 có trị giá là 36.000.000 đồng.

Lần 2: Khoảng 11 giờ 50 phút ngày 16/5/2021, Lâm Quang Đ điều khiển xe mô tô hiệu Honda AirBlade, biển kiểm soát 43C1-81893 chở Nguyễn Văn H đi ngang qua cửa hàng tạp hóa của chị Trần Thị Thanh T1 tại K62/6 N, phường H, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, H yêu cầu Đ dừng xe để vào mua thuốc. H vào trộm cắp 02 can dầu ăn, thể tích 05 lít hiệu Cái Lân của chị T1 rồi cùng với Đ đem đến tiệm tạp hóa tại địa chỉ 528 H, phường H, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng bán cho anh Nguyễn Văn T2 được 240.000 đồng, cả hai đã tiêu xài cá nhân hết.

Theo Kết luận định giá tài sản số 69/KL-HĐĐG ngày 08/6/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND quận Hải Châu kết luận 02 can dầu ăn, thể tích 05 lít, hiệu Cái Lân có trị giá là 400.000 đồng.

Lần 3: Với ý định bỏ trốn vào thành phố Hồ Chí Minh nên khoảng 10 giờ10 Pt ngày 28/6/2021, Nguyễn Văn H đi bộ đến trước nhà ông Hà Quốc K tại số 75 N, phường H, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng thì phát hiện xe mô tô hiệu Honda SH, màu nâu, biển số 43C1-320-77 của ông K để trong nhà và không có người trông giữ, nên H lén lút đi vào dắt xe ra ngoài và điều khiển xe trộm được đi từ thành phố Đà Nẵng đến địa phận huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa thì xe bị hỏng, nên H dắt xe mô tô trên đến tiệm sửa xe mô tô của ông Đặng Thành D để sửa xe. Đến khoảng 16 giờ 00 Pt ngày 01/7/2021, H quay lại lấy xe, nhưng thấy xe chưa sửa xong nên H ngồi đợi, lợi dụng lúc ông D đi vắng, H trộm xe mô tô biển số 79F9-7556 của ông D rồi điều khiển xe chạy trên đường quốc lộ 01 để tiếp tục bỏ trốn vào thành phố Hồ Chí Minh, khi đến địa phận xã Cam Thành Bắc, huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa thì H bị bắt giữa theo Lệnh truy nã.

Theo Kết luận định giá tài sản số 100/KL-HĐĐG ngày 14/7/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, UBND quận Hải Châu kết luận: Xe mô tô hiệu Honda SH, màu nâu, biển số 43C1-320-77 có trị giá là 55.000.000 đồng.

Nguyễn Văn H đã 03 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, tổng giá trị tài sản Nguyễn Văn H chiếm đoạt là 91.400.000 đồng (Chín mươi mốt triệu bốn trăm ngàn đồng).

*Vật chứng thu giữ từ:

+ Nguyễn Văn T2: 02 can dầu ăn, thể tích 5 lít, hiệu Cái Lân.

+ Lâm Quang Đ: Số tiền 240.000 đồng; 01 xe mô tô hiệu Honda AirBlade, biển số 43C1-81893.

+ Trần Thị Thanh T1: 01 đoạn video dài 43 giây ghi nhận hình ảnh Nguyễn Văn H trộm cắp tài sản tại K62/6 N, thành phố Đà Nẵng.

+ Hà Quốc K: 01 đoạn video dài 29 Pt 49 giây ghi nhận hình ảnh Nguyễn Văn H trộm cắp tài sản tại 75 N, thành phố Đà Nẵng.

+ Lê Văn P: 01 xe mô tô hiệu Honda AirBlade, biển số 92E1-293.04, số khung 336502, số máy 336518.

+ Đặng Thành D: 01 xe mô tô hiệu Honda SH, màu nâu, biển số 43C1-320.77.

Tại bản cáo trạng số 83/CT-VKSHC ngày 06/10/2021, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội "Trộm cắp tài sản" theo điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 03 đến 04 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị sung công quỹ nhà nước số tiền 240.000 đồng thu giữ của Lâm Quang Đ.

Tại phiên tòa, quá trình xét hỏi bị cáo Nguyễn Văn H thừa nhận hành vi phạm tội như trong bản cáo trạng đã truy tố.

Bị cáo Nguyễn Văn H nói lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, mong HĐXX xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hải Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về xác định tội phạm: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với chứng cứ lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó có cơ sở để xác định: Vào các ngày 29/3/2021, 16/5/2021 và 28/6/2021, trên địa bàn quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, Nguyễn Văn H có hành vi lén lút chiếm đoạt của ông Lê Văn P 01 xe mô tô Airblade biển kiểm soát 92E1-293.04 trị giá 36.000.000 đồng; của bà Trần Thị Thanh T1 02 can dầu ăn trị giá 400.000 đồng và của ông Hà Quốc K 01 xe mô tô Honda SH biển kiểm soát 43C1-320.77 trị giá 55.000.000 đồng, tổng trị giá tài sản Nguyễn Văn H chiếm đoạt là 91.400.000 đồng. Hành vi trên của bị cáo Nguyễn Văn H đã phạm vào tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại Điều 173 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng truy tố bị cáo Nguyễn Văn H là có cơ sở và đúng quy định của pháp luật.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Nguyễn Văn H là thanh niên có có sức khỏe nhưng lười lao động vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên đã nảy sinh ý định lén lút thực hiện trộm cắp tài sản. Nguyễn Văn H đã lợi dụng lúc chủ tài sản thiếu cảnh giác, không có người trông coi bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản, giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 91.400.000 đồng là tình tiết định khung quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ và gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải xử phạt cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân biết tôn trọng pháp luật.

Về các tình tiết tăng nặng: Nguyễn Văn H đã thực hiện hành vi trộm cắp 03 lần vào ngày 29/3/2021, ngày 16/5/2021 và ngày 28/6/2021, hai lần phạm tội có giá trị tài sản chiếm đoạt trên 2.000.000 đồng và 01 lần vào ngày 16/5/2021 tài sản chiếm đoạt có giá trị dưới 2.000.000 đồng nhưng trước đó vào ngày 20/4/2021 đã bị Công an phường H xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng phạm tội hai lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về các tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, trong quá trình điều tra bị cáo đã tự thú về hành vi phạm tội ngày 29/3/2021 nên khi quyết định mức hình phạt Hội đồng xét xử áp dụng các điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Đối với Lâm Quang Đ có hành vi cùng với H trộm cắp 02 can dầu ăn nhưng trị giá tài sản chiếm đoạt là 400.000 đồng, Đ chưa có tiền án, tiền sự về hành vi chiếm đoạt tài sản nên Công an quận Hải Châu ra quyết định xử phạt hành chính là có căn cứ.

Đối với Trần Đức T3 đã chở giúp H đến khu vực Đảo Xanh nhưng không biết H đi trộm cắp tài sản nên Cơ quan CSĐT Công an quận Hải Châu không xử lý là có căn cứ.

Đối với Nguyễn Văn T2 có hành vi mua 02 can dầu ăn thể tích 05 lít hiệu Cái Lân do Nguyễn Văn H mang đến bán nhưng ông T2 kkhong biết đây là tài sản trộm cắp mà có nên Cơ quan CSĐT Công an quận Hải Châu không xử lý là có căn cứ.

Đối với việc H trộm cắp xe mô tô biển số 79F9-7556 của ông Đặng Thành D tại huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa. Cơ quan CSĐT Công an quận Hải Châu đã có Công văn trao đổi về việc chuyển vụ án để điều tra xử lý nhưng Cơ quan CSĐT Công an huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa có văn bản trả lời đã khởi tố, xử lý theo thẩm quyền, không chuyển vụ án nên không xem xét trong vụ án này.

Về xử lý tang vật và trách nhiệm dân sự:

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, BKS 43C1-818.93 là của Lâm Quang Đ đứng tên chủ sở hữu. Đ đã sử dụng chiếc xe này chở H trộm cắp tài sản tuy nhiên hành vi của Đ chỉ bị xử lý hành chính nên Cơ quan CSĐT Công an quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã trả lại xe cho Đ là có căn cứ.

Bà Trần Thị Thanh T1, ông Lê Văn P và ông Hà Quốc K đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Ông Nguyễn Văn T2 không yêu cầu bồi thường số tiền 240.000 đồng mua 02 can dầu ăn nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Đối với số tiền 240.000 đồng của Lâm Quang Đ tự nguyện giao nộp, số tiền này có được từ việc bán 02 can dầu ăn mà Đ và H trộm cắp nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Hiện Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/10/2021.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Xử phạt: Nguyễn Văn H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bắt tạm giam, ngày 01/7/2021.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 240.000 đồng.

Hiện Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/10/2021.

4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ