vanban.org

Bản án 99/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 8, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 16/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Thành T ph m tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử ph t bị cáo Lê Thành T 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời h n tù t nh từ ngày 17/3/2020. Buộc bị cáo Lê Thành T nộp 200.000 đ ng án ph hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "99 Lê Thành T 173 - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thành T ph m tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 99/2020/HS-ST
Ngày: 16 - 7 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phúc

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Văn Rỹ

Bà Nguyễn Thanh Vân

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Diểm – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Văn Khá – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2020, t i tr s Tòa án nhân dân Qu n 8, Thành phố H Ch Minh xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự th lý số: 106/2020/TLST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2020, theo Quyết định đưa v án ra xét xử số: 120/2020/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:

Lê Thành T; sinh ngày 27/9/1985, t i Thành phố H Chí Minh; nơi cư trú (Hộ khẩu thường trú: 352/269 ND, Phường C, Qu n 8, Thành phố H Ch Minh; Chỗ : Không nơi cư trú nhất định); nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới t nh: Nam; tôn giáo: Ph t; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thành T1 và bà Nguyễn Thị L; có vợ: Nguyễn Thị Ngọc D (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không;

Bị bắt, t m giữ, t m giam từ ngày 17/3/2020 đến nay (có mặt).

- Bị hại: Ông Nguyễn Ngọc K, sinh năm: 1967; Nơi cư trú: 138/2 DBM, Phường N, Qu n T, Thành phố H Ch Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong h sơ v án và diễn biến t i phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 50 phút ngày 27/01/2020, Lê Thành T vào uống nước một mình t i quán nước trước nhà số 138/2 DBM, Phường N, Qu n 8, Thành phố H Ch Minh. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, T phát hiện con trai của ông Nguyễn Ngọc K là Nguyễn Thành C điều khiển xe gắn máy hiệu Honda AirBlade biển số 59L2-394.97 của ông K về cất xe dựng trước cửa nhà r i đi vào trong nhà, đầu xe hướng vào trong nhà, đuôi xe hướng ra đường DBM. C đi vào trong nhà và để quên chìa khóa xe trong công tắc xe. T thấy chìa khóa cắm trên xe nên nảy sinh ý định chiếm đo t xe trên. Thực hiện ý định, T đi đến dùng 02 tay dẫn xe máy trên lùi l i ph a sau ra đường DBM (cách vị tr bán đầu khoảng 1m) r i quay đầu xe, T leo lên xe chuẩn bị m khóa đề nổ xe để bỏ ch y thì bị C phát hiện, tri hô. T m công tắc xe định bỏ ch y thì C nắm ba ga xe qu t m nh làm T ngã xuống đường. T đứng d y bỏ ch y và trốn vào nhà vệ sinh của quán cà phê ĐH (số 246 đường X khu dân cư HA, Phường 5, Qu n 8). Lúc này, anh Ph m Ngọc H và anh Nguyễn H1 là khách uống cà phê t i quán chứng kiến sự việc nên cùng với người bị h i truy đuổi và bắt giữ được T, giải giao về tr s Công an Phường 5, Qu n 8 làm rõ. V việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Qu n 8 để điều tra làm rõ.

V t chứng: xe gắn máy hiệu Honda AirBlade biển số 59L2-394.97 do ông Nguyễn Ngọc K (cha của C) là chủ s hữu xe giao nộp cơ quan Công an.

Ngày 10/02/2020, Hội đ ng định giá tài sản trong tố t ng hình sự kết lu n: giá trị của: xe gắn máy hiệu Honda AirBlade biển số 59L2-394.97 là 27.000.000 đ ng.

Ngày 10/3/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Qu n 8 kh i tố v án, kh i tố bị can và bắt t m giam đối với Lê Thành T về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Quá trình điều tra, T đã khai nh n toàn bộ hành vi như đã nêu trên. Lời khai của Lê Thành T phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong h sơ v án.

Về trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra Công an Qu n 8 đã ra quyết định xử lý v t chứng bằng hình thức trao trả l i xe gắn máy hiệu Honda AirBlade biển số 59L2-394.97 cho ông Nguyễn Ngọc K. Ông K không yêu cầu bị cáo b i thường thiệt h i.

T i bản Cáo tr ng số 110/ CT-VKSQ8 ngày 17/6/2020, Viện kiểm sát nhân dân Qu n 8, Thành phố H Ch Minh truy tố bị cáo Lê Thành T về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

T i phiên tòa, Kiểm sát viên đ i diện Viện kiểm sát nhân dân Qu n 8, Thành phố H Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lê Thành T về tội “Trộm cắp tài sản”. Sau khi phân t ch, đánh giá t nh chất, mức độ nguy hiểm của hành vi ph m tội, Viện kiểm sát đề nghị Hội đ ng xét xử áp d ng khoản 1 Điều 173; các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử ph t bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù; không áp d ng hình ph t bổ sung là ph t tiền đối với bị cáo. Đối với v t chứng là chiếc xe máy, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý v t chứng bằng hình thức trao trả xe máy cho bị h i và bị h i không có yêu cầu b i thường đối với bị cáo nên không đề c p giải quyết.

Bị cáo không có ý kiến tranh lu n; bị cáo thừa nh n hành vi ph m tội, ăn năn hối cãi và xin giảm nhẹ hình ph t.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong h sơ v án đã được tranh t ng t i phiên tòa, Hội đ ng xét xử nh n định như sau:

Về hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan điều tra Công an Qu n 8, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Qu n 8, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ t c quy định của Bộ lu t tố t ng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và t i phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu n i về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó, các hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.

T i phiên tòa, bị cáo đã khai nh n hành vi phù hợp với lời khai t i cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai bị h i, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong h sơ v án, xác định vào khoảng 13 giờ 50 phút ngày 27/01/2020, t i trước số 138/2 DBM, Phường 5, Qu n 8, Thành phố H Ch Minh, bị cáo Lê Thành T có hành vi lén lút chiếm đo t chiếc xe gắn máy hiệu Honda AirBlade biển số 59L2-394.97 của ông Nguyễn Ngọc K có giá trị là 27.000.000 đ ng, hành vi của bị cáo T đã kịp thời bị phát hiện và bị Công an bắt giữ.

Điều 173 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội “Trộm cắp tài sản” như sau:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, đã xâm ph m đến quyền s hữu tài sản của cá nhân được pháp lu t bảo vệ. Như v y, Hội đ ng xét xử có căn cứ xác định hành vi của bị cáo Lê Thành T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội ph m và hình ph t được quy định t i khoản 1 Điều 173 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Hành vi ph m tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Xét t nh nghiêm trọng của tội ph m mà bị cáo đã thực hiện, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định bằng hình ph t tù có thời h n nhằm cải t o, giáo d c bị cáo tr thành người có ch, có ý thức tuân theo pháp lu t và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa ph m tội mới; đ ng thời phòng ngừa và đấu tranh chống tội ph m trong xã hội.

Cáo tr ng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là có cơ s , đúng người, đúng tội. Mức hình ph t mà Viện kiểm sát nhân dân Qu n 8 đề nghị áp d ng đối với bị cáo là phù hợp, tương xứng với t nh chất, mức độ nguy hiểm của hành vi ph m tội nên có căn cứ chấp nh n. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và t i phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo ph m tội lần đầu và thuộc trường hợp t nghiêm trọng; tài sản chiếm đo t đã được thu h i trả bị h i thuộc trường hợp “Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn”. Vì v y, Hội đ ng xét xử áp d ng các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình ph t đối với bị cáo.

Xét thấy, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo t i phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, thu nh p không ổn định, điều kiện kinh tế còn khó khăn nên Hội đ ng xét xử không áp d ng hình ph t bổ sung là ph t tiền đối với bị cáo.

Về v t chứng v án, quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý v t chứng trao trả 01 xe gắn máy hiệu Honda AirBlade biển số 59L2-394.97 cho bị h i, đ ng thời bị h i không ý kiến, yêu cầu gì liên quan đến việc t m giữ, xử lý v t chứng nên không đề c p giải quyết.

Về trách nhiệm dân sự, do bị h i không có yêu cầu bị cáo b i thường thiệt h i nên Hội đ ng xét xử không xem xét.

Về án ph hình sự sơ thẩm: Căn cứ quy định t i Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội, bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lê Thành T ph m tội “Trộm cắp tài sản”.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử ph t bị cáo Lê Thành T 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời h n tù t nh từ ngày 17/3/2020.

- Căn cứ vào Điều 135, 136 của Bộ lu t Tố t ng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội.

Buộc bị cáo Lê Thành T nộp 200.000 đ ng án ph hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong h n 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị h i vắng mặt t i phiên toà có quyền kháng cáo trong h n 15 ngày, t nh từ ngày nh n được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp lu t.

Cỡ chữ