vanban.org

Bản án 99/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử cho chị Tô Thị C được ly hôn với anh Vũ Minh T.

Về con chung: Giao cháu Vũ Thảo N, sinh ngày 08/3/2016 cho chị Tô Thị C trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Không ai được cản trở quyền trông nom, thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tô Thị C xin ly hôn Vũ Minh T"
  • Tòa quyết gì? Xử cho chị Tô Thị C được ly hôn với anh Vũ Minh T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỘC CHÂU
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 99/2020/HNGĐ - ST
Ngày 27- 5 – 2020
V/v: “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Ngọc Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hiền, ông Đỗ Đình Bản.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bình Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 52/2019/TLST-HNGĐ, ngày 06 tháng 02 năm 2020 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2020/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Tô Thị C, sinh năm 1994. Địa chỉ: Bản H, xã C, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La, có mặt tại phiên tòa.

Bị đơn: Anh Vũ Minh T, sinh năm 1990. Địa chỉ: Tiểu khu XX, xã C, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La, vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 05 tháng 02 năm 2020, bản tự khai và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Tô Thị C trình bày:

Chị và anh Vũ Minh T đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 31/3/2015 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La trên cơ sở tự nguyện. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 9 năm 2015 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do anh T không chịu tu chí làm ăn, không quan tâm đến vợ, con. Mâu thuẫn đã được vợ chồng và hai bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không thành, chị và anh T đã sống ly thân từ năm 2016, không còn quan tâm đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Vũ Minh T.

Về con chung: Chị Tô Thị C và anh Vũ Minh T có 01 con chung là cháu Vũ Thảo N, sinh ngày 08 tháng 3 năm 2016, nếu Tòa án giải quyết cho ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu N cho đến khi đủ 18 tuổi. Chị không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về chia tài sản, nợ chung: Chị Tô Thị C không yêu cầu giải quyết.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La phát biểu ý kiến như sau:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký: Từ khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án cho đến khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện các thủ tục tố tụng theo đúng quy định pháp luật.

- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử tham gia đúng thành phần như trong Quyết định đưa vụ án ra xét xử, các trình tự của phiên tòa sơ thẩm diễn ra theo đúng quy định của pháp luật.

- Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.

Tại phiên tòa, bị đơn anh Vũ Minh T vắng mặt. Từ khi thụ lý vụ án cho đến ngày xét xử sơ thẩm, Tòa án đã triệu tập và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Tiên, nhưng anh T cố tình lẩn tránh, không đến làm việc, cũng không giao nộp cho Tòa án bất cứ văn bản, tài liệu gì thể hiện ý kiến của anh đối với việc giải quyết vụ án. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 58; 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự:

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Tô Thị C được ly hôn với anh Vũ Minh T;

Về con chung: Giao cháu Vũ Thảo N, sinh ngày 08/3/2016 cho chị Tô Thị C trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh Vũ Minh T không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn cho chị C do chị C không yêu cầu.

Về án phí: Buộc nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Tô Thị C có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, giải quyết quyền nuôi con với anh Vũ Minh T, căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Anh Vũ Minh T có hộ khẩu thường trú tại xã C, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Căn cứ khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.

Tại phiên tòa, bị đơn anh Vũ Minh T vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Tô Thị C và anh Vũ Minh T được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 31 tháng 3 năm 2015 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị sống cùng bố mẹ đẻ nhà chồng và hạnh phúc đến tháng 9 năm 2015 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do anh T không chịu tu chí làm ăn, không quan tâm đến vợ, con. Mâu thuẫn đã được vợ chồng và hai bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2016, không còn quan tâm đến nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập anh T đến hòa giải, nhưng anh T không đến, thể hiện anh T không có thiện chí hòa giải. Từ đó, có căn cứ cho thấy mâu thuẫn vợ chồng của chị C, anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của chị C là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Chị Tô Thị C và anh Vũ Minh T có 01 con chung là cháu Vũ Thảo N đang ở cùng chị C. Nguyện vọng của chị C là được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu N. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập anh T đến hòa giải về việc nuôi con, nhưng anh T không đến, cũng không nộp cho Tòa án văn bản nêu ý kiến của mình về việc nuôi con. Căn cứ tài liệu, chứng cứ do chị C cung cấp, mức thu nhập bình quân của chị C là 3.000.000 đồng/1 tháng. Do đó, cần giao cháu Vũ Thảo N cho chị C trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi cháu đủ 18 tuổi là phù hợp với quy định của pháp luật và điều kiện kinh tế của các đương sự. Do chị C không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về Chia tài sản, nợ chung: Chị Chung trình bày không có tài sản chung, không nợ chung và không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Chị Tô Thị C phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 56; các Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Xử cho chị Tô Thị C được ly hôn với anh Vũ Minh T.

2. Về con chung: Giao cháu Vũ Thảo N, sinh ngày 08/3/2016 cho chị Tô Thị C trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.

Không ai được cản trở quyền trông nom, thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn.

3. Về án phí: Chị Tô Thị C phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm về việc ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị đã nộp theo biên lai số AA/2016/0003588 ngày 06/02/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mộc Châu. Xác nhận chị C đã nộp đủ số tiền án phí.

Nguyên đơn chị Tô Thị C được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn anh Vũ Minh T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại trụ sở UBND xã C, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.

Cỡ chữ