- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị Sơn C
- Căn cứ chính? Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 99/2020/DS -ST Ngày: 06 tháng 7 năm 2020 V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quang Vũ Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đoàn Văn Quang 2. Ông Nguyễn Văn Vui
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ngọc Hạnh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Gò Công Đông
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông tham gia phiên toà: Ông Đặng Văn Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 34/2020/TLST-DS ngày 12 tháng 2 năm 2020, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2020/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 5 năm 2020 và và Quyết định hoãn phiên tòa số: 39/2020/QĐST- DS ngày 17 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Sơn C, sinh năm: xxxx (Có mặt)
Địa chỉ: Ấp M, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang
Chỗ ở hiện nay: Số M, Phường N, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh
2. Bị đơn: Anh Lê Công P, sinh năm: xxxx (Có mặt)
Địa chỉ: Ấp Đ, xã T, huyện G, Tiền Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Đặng Thị Sơn C trình bày:
Năm 2019, qua mối qua hệ quen biết chị có cho ông Lê Công P vay 03 lần tiền: lần 1 là 30.000.000 đồng, lần 2 là 30.000.000 đồng, lần 3 là 27.000.000 đồng, tổng cộng là 87.000.000 đồng, không nhớ rỏ thời gian bắt đầu cho mượn và các ngày cho mượn. Đến ngày 29/9/2019, chị có lập “Giấy vay tiền” nội dung: chị có đưa cho anh P số tiền 87.000.000 đồng, thỏa thuận hàng tháng vào ngày 20 tây anh P sẽ trả cho chị số tiền là 20.000.000 đồng. Toàn bộ chữ viết trong Giấy vay tiền là do chị viết, anh P có viết, ký tên vào “Giấy vay tiền” nhưng sau đó anh P không thực hiện.
Nay chị yêu cầu anh P trả cho chị số tiền 87.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi suất. Thời gian thực hiện làm một lần sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Tại phiên tòa, chị C yêu cầu anh P trả số tiền nêu trên hàng tháng là 10.000.000 đồng đến khi hoàn tất nợ.
* Tại biên bản ghi lời khai, quá trình giải quyết và tại phiên tòa bị đơn anh Lê Công P trình bày:
Anh thống nhất lời trình bày của chị Đặng Thị Sơn C. Anh có vay tiền của chị Đặng Thị Sơn C làm nhiều lần anh không nhớ số tiền cụ thể, các lần vay cũng không có làm biên nhận đến khi anh không có khả năng thanh toán thì chị C có viết “Giấy vay tiền”, anh có viết họ tên và ký tên vào Giấy vay tiền ngày 29/9/2019 mà chị C cung cấp cho Tòa án.
Nay chị C yêu cầu trả số tiền 87.000.000 đồng làm một lần nhưng do hoàn cảnh đang khó khăn yêu cầu được trả hàng tháng là 500.000 đồng đến khi hoàn tất số tiền còn nợ. Tại phiên tòa, anh P yêu cầu được trả hàng tháng là 1.000.000 đồng đến khi hoàn tất nợ.
* Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, Viện kiểm sát không có kiến nghị.
Về nội dung đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở phân tích, đánh giá, nhận định đầy đủ, khách quan về chứng cứ và những tình tiết của vụ án:
Về thủ tục tố tụng: Chị Đặng Thị Sơn C khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản với anh Lê Công P là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung:
Xét hợp đồng vay tài sản giữa chị Đặng Thị Sơn C và anh Lê Công P thể hiện trong Giấy vay tiền ngày 29/9/2019 được anh Lê Công P thừa nhận và đồng ý trả số tiền vốn gốc 87.000.0000 (Tám mươi bảy triệu) đồng cho chị Đặng Thị Sơn C là hợp pháp.
Căn cứ Điều 463 và Điều 466 Bộ luật dân sự, Hội đồng xét xử ghi nhận việc anh P có trách nhiệm trả cho chị C số tiền 87.000.0000 (Tám mươi bảy triệu) đồng là phù hợp;
Về thời gian trả nợ: Chị C yêu cầu anh P có trách nhiệm trả số tiền 87.000.000 đồng làm một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật. Anh P đã vi phạm sự thỏa thuận nên anh P phải có trách nhiệm trả số tiền 87.000.0000 (Tám mươi bảy triệu) đồng là hoàn toàn có cơ sở. Tại phiên tòa, chị C yêu cầu anh P trả số tiền vốn là 87.000.000 đồng hàng tháng là 10.000.000 đồng đến khi hết nợ. Anh P yêu cầu được trả số tiền 87.000.000 đồng, trả hàng tháng 1.000.000 đồng đến khi hoàn tất nợ. Xét yêu cầu của chị C đối với anh P là có căn cứ và có lợi cho bị đơn nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với yêu cầu của anh P là thiệt thòi quyền lợi của chị C và không được chị C đồng ý nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận
Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh P có trách nhiệm trả nợ cho chị C nên phải chịu toàn bộ án phí dân sự.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông: Việc lập hồ sơ, tiến hành xét xử của Tòa án là đúng theo quy định của pháp luật không có vi phạm nên Viện kiểm sát không có kiến nghị. Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp một phần quan điểm của Hội đồng xét xử nên được Hội đồng xét xử chấp nhận một phần.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điều 463, 466 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; điểm a, khoản 1 Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ – HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị Sơn C
Buộc anh Lê Công P phải có trách nhiệm trả cho chị Đặng Thị Sơn C số tiền 87.000.0000 (Tám mươi bảy triệu) đồng. Trả hàng tháng là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) cho đến khi hết số tiền nợ.
Thời gian thực hiện sau khi án có hiệu lực pháp luật
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí:
- Anh Lê Công P phải chịu tiền án phí sơ thẩm là 4.350.000 đồng;
- Chị Đặng Thị Sơn C được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí là 2.175.000 đồng (Hai triệu một trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai số 0017531 ngày 06/02/2020 của Chi cục Thi hành án huyện Gò Công Đông.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận - VKSND huyện Gò Công Đông; - Chi cục THA DS huyện Gò Công Đông; - Các đương sự - Lưu hs.av THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quang Vũ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quang Vũ |