- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Văn H - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 99/2019/HS-ST Ngày: 31-7-2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Châm Thị Vân Khánh
Các hội thẩm nhân dân:
1. Bà Hoàng Thị Kim Liên
Nghề nghiệp: Giáo viên
Nơi công tác: Trường tiểu học Hương Sơn, huyện Phú Bình, Thái Nguyên
2. Ông Vũ Ngọc Dũng
Nghề nghiệp: Cán bộ
Nơi công tác: Phòng tư pháp huyện Phú Bình, Thái Nguyên
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Giang , Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình tham gia phiên toà: Ông
Phạm Văn Vũ, Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2019, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Phú Bình,
tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 96/2019/TLST-HS ngày 03/7/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 109/2019/QĐXXST-HS ngày 17/7/2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: Dƣơng Văn H; giới tính: Nam; sinh ngày 13/3/2001; nơi
ĐKHKTT và chỗ ở: xóm B, xã T, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 6/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Dương Văn C và bà Năng Thị Ng; Vợ, con: chưa có; tiền án: không;
Tiền sự: Ngày 02/10/2018 bị Công an huyện Phú Bình xử phạt vi phạm hành
chính về hành vi trộm cắp tài sản, mức phạt 750.000đ
Bị tạm giam từ ngày 14/5/2019 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm
giữ Công an huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên; có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Nguyễn Huy H1, sinh ngày 30/6/2002 (Có mặt)
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Chị Vũ Thị Th, sinh năm 1980- là mẹ đẻ
(Vắng mặt)
Cùng trú tại: xóm L, xã T, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Anh Phạm Văn Ph, sinh năm 1982(Vắng mặt)
Địa chỉ: xóm P, xã T, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
- Người tham gia tố tụng khác:
+ Người làm chứng:
1. Ông Vũ Hữu K, sinh năm 1955 (Có mặt)
Địa chỉ: xóm L, xã T, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
2. Chị Dương Thị X, sinh năm 1985 (Có mặt)
Địa chỉ: xóm B, xã T, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Khoảng 8h ngày 11/5/2019 Dương Văn H đi bộ một mình từ nhà ở xóm B, xã
T, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, sang xóm L, xã T, huyện Phú Bình để chơi. Đến nơi H gặp ông Vũ Hữu K, sinh năm 1955 là ông ngoại của Nguyễn Huy H1, sinh năm 2002. Do có quen biết H1 từ trước nên sau khi nói chuyện với ông K, H biết nhà ông K và nhà H1 không có ai ở nhà, nên H đã nảy sinh ý định đến nhà H1 để tìm tài sản trộm cắp. H đến nhà H1 thấy cửa chính không khóa, H đẩy cửa đi vào, thấy ở đầu giường bên tay phải phòng khách nhìn từ ngoài cửa vào có 01 chiếc điện thoại hiệu Iphone 5S màu vàng đồng và 01 chiếc điện thoại hiệu OPPO A57 màu vàng đồng đang cắm sạc pin. H dùng tay tháo sạc pin và cho điện thoại vào túi quần sau đó mang về nhà cất giấu. Khi về nhà H đã tháo sim của hai chiếc điện thoại trên cất lên đỉnh tủ nhà H. Đến 15h cùng ngày H đi xe máy một mình mang theo chiếc điện thoại Iphone 5S đến cửa hàng điện thoại Minh Ph thuộc xóm P, xã T, huyện Phú Bình do anh Phạm Văn Ph, sinh năm 1982 làm chủ để bán cho anh Ph với giá 400.000đ. Còn chiếc điện thoại OPPO A57, đến sáng ngày 12/5/2019 H đã mang đến cửa hàng Minh Ph để sửa thay màn hình. Số tiền bán điện thoại H đã tiêu xài cá nhân hết 200.000đ.
Sau khi phát hiện bị mất 02 chiếc điện thoại, anh H1 và ông Kết đã có đơn
trình báo tới cơ quan Công an huyện Phú Bình đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại Bản kết luận định giá số 22/KL - ĐG ngày 14/5/2019 của Hội đồng định
giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Phú Bình, kết luận: Giá trị 02 chiếc điện thoại Iphone 5S, màu vàng đồng, máy cũ đã qua sử dụng và OPPO A57, màu vàng đồng, máy cũ đã qua sử dụng có giá trị là: 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng chẵn).
Tại Cơ quan điều tra Dương Văn H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như
nêu trên.
Vật chứng của vụ án: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S, màu
vàng đồng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57, màu vàng đồng cùng 02 thẻ sim đã được thu hồi trả lại cho bị hại quản lý, sử dụng và số tiền 200.000đ.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì đối
với bị cáo H.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án là anh Phạm Văn Ph yêu
cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 400.000đ.
Tại bản Cáo trạng số 107/CT-VKSPB, ngày 30/6/2019, Viện kiểm sát nhân
dân huyện Phú Bình truy tố Dương Văn H về tội “Trộm cắp tài sản “ theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Dương Văn H khai nhận rõ hành vi phạm tội như lời khai
tại cơ quan điều tra và bản cáo trạng mô tả. Bị cáo thừa nhận việc truy tố xét xử là đúng người, đúng tội, không oan. Bị hại xác định đã nhận lại tài sản và đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Tại phiên tòa, trong phần luận tội Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú
Bình giữ nguyên bản Cáo trạng số 107/CT-VKSPB, ngày 30/6/2019, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Dương Văn H phạm tội "Trộm cắp tài sản":
- Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; điểm i, s khoản 1, khoản
2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt Dương Văn H từ 15 đến 18 tháng tù; miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo; về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho anh Phạm Văn Ph số tiền 400.000đ. Về vật chứng vụ án cần tạm giữ số tiền 200.000đ để đảm bảo thi hành án. Bị cáo phải chịu án phí và được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật
Trong phần tranh luận bị cáo, bị hại không có ý kiến tranh luận với đại diện
Viện kiểm sát.
Trong lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo nhận thấy
hành vi của mình là sai và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, Quyết định
tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa và trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và Kiểm sát viên tiến hành tố tụng chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng không có ý kiến hoặc kH nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa
là khách quan, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra về thời gian, địa điểm, quá trình thực hiện hành vi phạm tội. Phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng. Phù hợp với kết luận định giá và các chứng cứ, tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 8h30 phút ngày 11/5/2019, tại gia đình anh Nguyễn Huy H1 thuộc xóm L, xã T, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, bị cáo Dương Văn H đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S màu vàng đồng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57 màu vàng đồng, đã qua sử dụng của anh Nguyễn Huy H1. Theo Kết luận định giá, 02 chiếc điện thoại bị cáo trộm cắp trị giá 2.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Bản Cáo trạng số 107/CT-VKSPB, ngày 30/6/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình truy tố Dương Văn H về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ Luật hình sự là có căn cứ.
Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ và bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi với lỗi cố ý, làm mất trật tự an toàn xã hội, bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối
với bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Bị cáokhông có tiền án nhưng có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản, cho thấy bị cáo có nhân thân xấu. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, được bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ tội phạm do bị cáo thực hiện,
sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng cần phải có mức án nghiêm khắc cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Mức án mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị tại phiên tòa xét thấy là phù hợp
cần chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo, nên không áp dụng
hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về áp dụng biện pháp ngăn chặn: cần áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng
hình sự; Quyết định tạm giam bị cáo Dương Văn H 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu về trách nhiệm dân sự,
nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Anh Phạm Văn Ph yêu cầu bị cáo Dương Văn H phải bồi thường số tiền
400.000đ là có căn cứ, nên cần chấp nhận.
Về vật chứng: Cần tạm giữ số tiền 200.000đ để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
đến vụ án được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Các vấn đề khác: Trong vụ án này còn có anh Phạm Văn Ph là người
mua chiếc điện thoại của bị cáo nhưng anh Ph không biết đó là tài sản do phạm tội mà có, nên cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều
38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Dương Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Xử phạt Dương Văn H 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ
ngày tạm giam bị cáo 14/5/2019.
2/Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo Dương
Văn H 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
3/Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 357, Điều
468, Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo Dương Văn H phải bồi thường cho anh Phạm Văn Ph số tiền 400.000đ(Bốn trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu
cầu thi hành án nếu bên phải thi hành án không trả khoản tiền trên thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại các Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
4/Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố
tụng hình sự. Tạm giữ số tiền 200.000đ của bị cáo Dương Văn H để đảm bảo thi hành án.
(Theo ủy nhiệm chi số 156 ngày 08/7/2019 giữa Công an huyện Phú Bình và
Kho bạc Nhà nước huyện Phú Bình)
5/Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết
326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí. Buộc bị cáo Dương Văn H phải nô ̣p 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.
6/Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị
cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đại diện hợp pháp của bị hại là chị Th, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
đến vụ án là anh Ph vắng mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - TAND tỉnh Thái Nguyên; - Sở tư pháp tỉnh Thái Nguyên; - Nhà tạm giữ Công an huyện Phú Bình; - VKSND huyện Phú Bình; - Công an huyện Phú Bình; - THADS huyện Phú Bình; - THA phạt tù; - Bị cáo,Bị hại, NLQ; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Châm Thị Vân Khánh |