vanban.org

Bản án 99/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Trương Hồng N và ông Phạm Văn Đ.

Về quyền nuôi con chung: Giao người con tên Phạm Duy Kh (giới tính nam), sinh ngày 06 tháng 11 năm 2008 cho bà Trương Hồng N trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. Về án phí: Bà Trương Hồng N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa bà Trương Hằng N với ông Phạm Văn Đ"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Trương Hồng N và ông Phạm Văn Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 99/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 09-10-2019
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH, CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Triều.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Minh Hoàng.

Bà Đoàn Thị Sim.

- Thư ký phiên tòa: Ông Châu Sơn Ca là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Ông Huỳnh Văn Kil - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 273/2019/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2019 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 175/2019/QĐXXST-HNGĐ, ngày 27 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trương Hồng N, sinh năm 1979.

- Bị đơn: Ông Phạm Văn Đ, sinh năm 1980 (có mặt).

Cùng trú tại: Ấp T, xã N, huyện P, tỉnh Cà Mau.

Ngày 13 tháng 8 năm 2019 bà Trương Hồng N có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và bản tự khai ngày 13 tháng 8 năm 2019 nguyên đơn bà Trương Hồng N trình bày: Bà và ông Phạm Văn Đ tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau vào năm 2005. Thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc, thời gian gần đây vợ chồng xảy ra mâu thuẫn và không thể chung sống với nhau được do ông Đ gia trưởng, không thảo luận với vợ mà tự quyết định các vấn đề trong cuộc sống vợ chồng. Xét thấy sống với nhau không còn mang lại hạnh phúc nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Phạm Văn Đ. Trong quá trình chung sống bà và ông Đ có hai người con chung tên Phạm Khánh D sinh ngày 03 tháng 6 năm 2001 và Phạm Duy Kh, sinh ngày 06 tháng 11 năm 2008. Đối với Phạm Khánh D đã trưởng thành và đã đủ khả năng lao động nuôi sống bản thân nên không yêu cầu tòa án giải quyết; đối với Phạm Duy Kh hiện đang do bà trực tiếp nuôi dưỡng, sau khi ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng Phạm Duy Kh, bà không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại bản tự khai ngày 13 tháng 8 năm 2019 và tại phiên tòa bị đơn ông Phạm Văn Đ trình bày: Ông và bà Trương Hồng N tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do vợ chồng không hợp nhau và vợ chồng không còn chung sống với nhau hơn một năm nên ông đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà Trương Hồng N. Về con chung: Có hai người con chung tên Phạm Khánh D sinh ngày 03 tháng 6 năm 2001 và Phạm Duy Kh, sinh ngày 06 tháng 11 năm 2008. Sau khi ly hôn ông đồng ý giao con chung tên Phạm Duy Kh cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng, ông không cấp dưỡng nuôi con; đối với Phạm Khánh D đã trưởng thành và có đủ khả năng lao động để nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của cùa bà Trương Hồng N về việc yêu cầu ly hôn với ông Phạm Văn Đ. Ghi nhận sự thỏa thuận của bà N và ông Đ, giao người con chung tên Phạm Duy Kh cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng, ông Đ không cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Bà Trương Hồng N yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Phạm Văn Đ và yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung. Do đó, đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.

Về sự vắng mặt của đương sự: Bà Trương Hồng N là nguyên đơn đã có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bà Trương Hồng N.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Hồng N và ông Phạm Văn Đ tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Nguyễn Việt Khái, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau vào năm 2005 nên hôn nhân của bà N và ông Đ là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Bà N yêu cầu ly hôn với ông Đ, tại phiên tòa ông Đ đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà N vì cho rằng ông không còn thương yêu bà N. Điều này cho thấy tình trạng hôn nhân giữa bà N và ông Đ đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Trương Hồng N về việc yêu cầu ly hôn với ông Trương Văn Đ.

Về quyền nuôi con chung: Trong quá trình chung sống bà N và ông Đ có hai người con chung tên Phạm Khánh D sinh ngày 03 tháng 6 năm 2001 và Phạm Duy Kh, sinh ngày 06 tháng 11 năm 2008. Đối với người con chung tên Phạm Khánh D đã trưởng thành và có khả năng lao động để nuôi sống bản thân nên không xem xét. Đối với người con chung tên Phạm Duy Kh hiện đang do bà N trực tiếp nuôi dưỡng, bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng Phạm Duy Kh. Tại phiên tòa ông Đ đồng ý giao con chung cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy sự thỏa thuận giữa bà N và ông Đ là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, không vi phạm điều cấm của luật và phù hợp với nguyện vọng của người con chung thể hiện tại bản tự khai ngày 13 tháng 8 năm 2019 của Phạm Duy Kh nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của bà N và ông Đ, giao người con chung tên Phạm Duy Kh, sinh ngày 06 tháng 11 năm 2008 cho bà Trương Hồng N trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. Bà N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung bà N và ông Đ không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà N phải chịu 300.000đ, bà N đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000đ được chuyển thu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 điều 39, Điều 147; Điều 228; Điều 271 và Điề u 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Áp dụng các Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

- Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

- Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Trương Hồng N và ông Phạm Văn Đ.

- Về quyền nuôi con chung: Giao người con tên Phạm Duy Kh (giới tính nam), sinh ngày 06 tháng 11 năm 2008 cho bà Trương Hồng N trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

Về án phí: Bà Trương Hồng N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0019359 ngày 13 tháng 8 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân; bà N đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm , ông Phạm Văn Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Trương Hồng N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ