vanban.org

Bản án 99/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị K đối với anh Sanh Văn S. Chị Nguyễn Thị K được ly hôn với anh Sanh Văn S. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 99/2019/HNGĐ-ST
Ngày 22-11-2019
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Nương.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Vân.

Bà Nguyễn Thị Nhàn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hoài Thanh – Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh

tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Nhiên - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu

Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 625/2019/TLST-

HNGĐ ngày 24 tháng 9 năm 2019 về “tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết

định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm

2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị K, sinh năm 1992 (Vắng mặt);

Cư trú tại: Số A, tổ C, ấp Thành T, xã Thành L, huyện C T, tỉnh Tây

Ninh.

- Bị đơn: Anh Sanh Văn S, sinh năm 1992 (Vắng mặt);

Cư trú tại: Số A, tổ C, ấp Thành T, xã Thành L, huyện C T, tỉnh Tây

Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 24/9/2019 lời khai có trong hồ sơ vụ án nguyên

đơn chị Nguyễn Thị K trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Sanh Văn S chung sống với nhau vào

năm 2017, Có tổ chức lễ cưới và đến ngày 26/3/2019 đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Thành L, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Thời gian mới kết hôn vợ chồng chị chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, cãi vả thường xuyên. Nguyên nhân là do anh S thường xuyên đi uống rượu nghe lời bạn bè về kiếm chuyện chửi, đánh đập chị. Sau đó đến tháng 11/2018 chị yêu cầu vợ chồng ra ở riêng, anh S đồng ý. Nhưng sau đó, anh S đổi ý không chịu ra ở riêng nữa mà chửi và đuổi chị đi. Chi đi sang Trung Quốc làm ăn đến tháng 8/2019 thì về nước. Do đó, vợ chồng chị đã ly thân từ tháng 11/2018 cho đến nay, vợ chồng đã cố gắng hàn gắn nhưng không thể hòa giải mâu thuẫn. Nay chị nhận thấy mâu thuẫn giữa hai vợ chồng rất trầm trọng, tình cảm đã thực sự không còn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Sanh Văn S.

Về con chung: Vợ chồng chị có 01 người con chung tên Sanh Hiểu T1,

sinh ngày 07/11/2017. Nay ra tòa chị yêu cầu giao con chung cho anh S được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị xác định không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải

quyết.

Từ khi thụ lý vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh Sanh Văn S đến để

giải quyết vụ án nhưng anh S đều vắng mặt không rõ lý do nên không có ý kiến của anh.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh

Tây Ninh trình bày:

Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo thủ tục tố tụng dân

sự, không có vi phạm. Các đương sự tham gia tố tụng trong vụ án chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Xét thấy yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận cho

chị K và anh S được ly hôn. Về con chung: Giao con chung tên Sanh Hiểu T1, sinh ngày 07/11/2017 cho anh S chăm sóc nuôi dưỡng. Chị K không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không đặt ra giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện

kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng: Anh Sanh Văn S là bị đơn, đã được Tòa án triệu

tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không rõ lý do, chị Nguyễn

Thị K là nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ vào

khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 xét xử vắng

mặt chị K, anh S.

. Về quan hệ hôn nhân: Chị K và anh S chung sống với nhau năm 2017,

Có tổ chức lễ cưới và đến ngày 26/3/2019 đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân

xã Thành L, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Đây là quan hệ hôn nhân hợp

pháp, được pháp luật bảo vệ.

. Về mâu thuẫn của vợ chồng: Xét thấy quá trình sống chung, chị K và

anh S bất đồng quan điểm, thường cãi vả thường xuyên. Anh S thường xuyên đi

uống rượu về kiếm chuyện chửi và đánh đập chị K. Anh S không chịu ra ở riêng

với chị mà chửi và đuổi chị đi. Chi đi sang Trung Quốc làm ăn đến tháng 8/2019

thì về nước. Do đó, vợ chồng chị đã ly thân từ tháng C/2018 cho đến nay, vợ

chồng đã cố gắng hàn gắn nhưng không thể hòa giải mâu thuẫn. Tòa án đã triệu

tập anh S nhiều lần nhưng anh S không đến Tòa án để làm việc nên không có ý

kiến gì về yêu cầu ly hôn của chị K.

. Quá trình thu thập chứng cứ có xác minh ý kiến của những người biết

việc, xác định vợ chồng chị K, anh S thường xuyên mâu thuẫn cải vã nhau. Chị

K và anh S ly thân từ tháng 11/2018 cho đến nay. Điều này vi phạm nghiêm

trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm

trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt

được. Từ những phần tích trên xét thấy yêu cầu xin ly hôn của chị K là có căn

cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị là phù hợp Khoản 1 Điều 56

Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

. Về con chung: Vợ chồng chị K, anh S có 01 người con chung tên

Sanh Hiểu T1, sinh ngày 07/11/2017. Sau khi ly thân thì anh S là người nuôi

dưỡng cháu Thắng. Nay ra tòa chị K đồng ý giao con chung cho anh S được tiếp

tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị không phải cấp dưỡng nuôi con.

Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chung, Hội đồng xét xử

ghi nhận. Giao con chung tên Sanh Hiểu T1, sinh ngày 07/11/2017 cho anh S được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp khoản 2 Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

. Về tài sản chung: Chị K không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh S

không có ý kiến nên không đặt ra giải quyết.

. Về nợ chung: Chị K trình bày không có, anh S không có ý kiến nên

Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

. Về án phí: Do chị Nguyễn Thị K là nguyên đơn nên phải chịu án phí

dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Anh Sanh Văn S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 81; 82; 83 Luật Hôn

nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị

K đối với anh Sanh Văn S. Chị Nguyễn Thị K được ly hôn với anh Sanh Văn S.

2. Về con chung: Giao con chung tên Sanh Hiểu T1, sinh ngày

07/11/2017 cho chị anh S trực tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị K không phải cấp dưỡng nuôi con, vì anh S không yêu cầu.

Chị K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn mà không

ai được cản trở chị K thực hiện quyền này.

3. Về tài sản chung: Chị K không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không

đặt ra giải quyết;

4. Về nợ chung: Không có, nên không có nên không đặt ra giải quyết.

5. Về án phí:

Chị Nguyễn Thị K phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba

trăm nghìn) đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0006310 ngày 24/9/2019 của Chi cục Thi hành

án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Chị Nguyễn Thị K đã nộp đủ tiền

án phí dân sự sơ thẩm.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây

Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên

toà hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng

cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ