- Tranh chấp gì? án dân sự — "S và P tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản"
- Tòa quyết gì? Áp dụng các các Điều 428, 431, 432, 438, 439, 461, 305 BLDS 2005;
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 99 /2019/DS– ST Ngày: 29/10/2019 V/v“Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HOÀ, TỈNH PHÚ YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Thúy Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Huỳnh Thị Minh Tuyết và ông Hà Trọng Khá;
Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Lệ Siêng – Thư ký Toà án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa tham gia phiên tòa: Nguyễn Thị Tú Vương – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Tuy Hoà, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 201/2013/TLST – DS ngày 01/4/2013 về “tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 130/2019/QĐXXST – DS ngày 09/9/2019 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Hồ Thị Thanh S – sinh năm 1964; Địa chỉ: đường T, phường M, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Hoặc đường L, phường H, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt tại phiên tòa.
Bị đơn: Bà Phan Thị P – sinh năm 1961; Địa chỉ: đường L, phường T, tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
NLQ1 - sinh năm 1982; Địa chỉ: Địa chỉ: đường L, phường T, tỉnh Phú Yên.Vắng mặt tại phiên tòa.
NLQ2 – sinh năm 1982; Địa chỉ: thôn P, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện nguyên đơn bà Hồ Thị Thanh S trình bày: ngày 28/7/2010, bị đơn bà Phan Thị P đã mua của nguyên đơn 01 chiếc xe gắn máy hiệu Suvina, số máy 232007, số khung 002007, còn nợ lại số tiền 9520.000 đồng, bị đơn cam kết trả góp 529.000 đồng/tháng, trong thời hạn 18 tháng theo Hợp đồng trả góp xe gắn máy ngày 28/7/2010 nhưng cho đến nay bị đơn vẫn chưa trả; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông NLQ1 là người bảo lãnh cho bị đơn. Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả nợ gốc và lãi tính theo quy định pháp luật.
Bị đơn bà Phan Thị P trình bày: Năm 2010, bị đơn mua của nguyên đơn một chiếc xe trả góp giá 12.500.000 đồng, đã trả cho bà S 3.000.000 đồng còn lại 9.500.000 đồng trả góp hàng tháng mỗi tháng 500.000 đồng, góp được hai tháng thì không có khả năng góp nữa, đến ngày 20/12/2011 (âm lịch) nguyên đơn đến nhà bị đơn thu hồi chiếc xe trên. Tuy nhiên, bị đơn không có chứng cứ gì chứng minh việc nguyên đơn đến nhà bị đơn thu hồi lại chiếc xe để cung cấp cho Tòa. Nay nguyên đơn đề nghị nếu nguyên đơn yêu cầu trả tiền mua xe thì bị đơn yêu cầu nguyên đơn trả lại xe để con bà có phương tiện đi làm kiếm thu thập trả nợ cho nguyên đơn, nếu không thì không đồng ý trả nợ cho nguyên đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan NLQ1 vắng mặt nên không trình bày ý kiến.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan NLQ2 trình bày: Ông là nhân viên của Doanh nghiệp Thanh S chuyên về mua bán xe máy trả góp từ tháng 4/2007 đến tháng 4/2012, được bà Hồ Thị Thanh S ủy quyền đứng tên trên các Giấy đăng ký xe cho khách hàng mua xe trả góp, khi khách hàng trả xong tiền góp xe thì ông sẽ liên hệ Phòng Cảnh sát giao thông sang nhượng tên xe cho khách chứ ông không phải là chủ sở hữu các xe mô tô ở Doanh nghiệp tư nhân Thanh S bán cho khách hàng (Giấy tờ gốc đều do bà S giữ).
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt không trình bày.
Bị đơn giữ nguyên ý kiến đã trình bày trước đây.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt phải chịu hậu quả pháp lý theo quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án: Căn cứ các Điều 428, 438, 439, 461, 305 BLDS 2005: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Áp dụng các quy định tại Điều 48 nghị quyết 326/2016/UBTVQH về án phí, lệ phí Toà án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, buộc bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ mua xe máy trả góp, đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Tuy Hoà theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, những người có nghĩa vụ liên quan được triệu tập nhiều lần nhưng vắng mặt trình giải quyết vụ án. Căn cứ các Điều 227, 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: Theo đơn khởi kiện ngày 15/02/2013, nguyên đơn bà Hồ Thị Thanh S yêu cầu bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trả số tiền 9.520.000 đồng gốc và tiền lãi theo lãi xuất 1,125% từ ngày mua xe đến khi trả dứt điểm nợ căn cứ vào Hợp đồng trả góp xe gắn máy ngày 28/7/2010 đối với chiếc xe gắn máy hiệu hiệu Suvina, số máy 232007, số khung 002007. Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả nợ gốc và lãi tính theo quy định pháp luật. Kèm theo đơn khởi kiện ngày 15/2/2013 là bản gốc Hợp đồng trả góp mua xe máy ký ngày 28/7/2010 có nội dung bị đơn mua xe hiệu Suvina, số máy 232007, số khung 002007, tổng số tiền còn nợ lại là 9.520.000, trả góp 529.000 đồng/tháng, trong thời hạn 18 tháng. Bị đơn trình bày chiếc xe hiệu Suvina, số máy 232007, số khung 002007 do bị đơn mua của nguyên đơn giá lúc đầu là 12.520.000 đồng, đã trả trước 3.000.000 đồng, còn nợ lại 9.250.000 đồng và hẹn trả góp hàng tháng như nguyên đơn đã trình bày và đã bị nguyên đơn thu hồi xe. Tuy nhiên, bị đơn không có chứng cứ gì chứng minh việc nguyên đơn đến nhà bị đơn thu hồi lại chiếc xe để cung cấp cho Tòa.
Tại phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của Công an thành phố Tuy Hòa ngày 22/7/2013 cung cấp thông tin về chiếc xe bị đơn đã mua của nguyên đơn có biển số 78M1-NNNN, kèm tài liệu xác định xe 78M1-NNNN do ông NLQ2 đứng tên chủ sở hữu. Theo các tài liệu trong quá trình giải quyết vụ án, ông NLQ2 thừa nhận ông là nhân viên của bà S được bà S ủy quyền đứng tên trên các Giấy đăng ký xe bán cho khách hàng. Căn cứ Điều 2 Hợp đồng trả góp mua xe máy ký ngày 21/11/2012, các bên có thỏa thuận “khi mua xe thì bên mua phải ủy quyền cho nhân viên của bà S đứng tên chủ sở hữu xe, kể từ ngày ký hợp đồng chiếc xe là tài sản sở hữu của bà S, khi nào trả hết nợ cho bà S thì nhân viên ký giấy bán có xác nhận của chính quyền địa phương, bà S hết trách nhiệm về mặt giấy tờ đối với bên mua”. Bị đơn thừa nhận có mua xe và còn nợ số tiền như Hợp đồng mua bán đã thể hiện và không có chứng cứ gì chứng minh việc nguyên đơn đến nhà bị đơn thu hồi lại chiếc xe nên Hội đồng xét xử thấy đủ căn cứ xác định bị đơn có mua của nguyên đơn Hồ Thị Thanh S 01 chiếc xe máy có biển số 78M1-NNNN (đứng tên NLQ2) và còn nợ lại 9.520.000 đồng nên cần buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền gốc 9.520.000 đồng.
Đối với yêu cầu về lãi theo quy định của pháp luật: tại Điều 3 của Hợp đồng trả góp mua xe máy ký ngày 28/7/2010, các bên thỏa thuận lãi chậm trả bằng 2%/tháng, áp dụng các quy định tại các Điều 438, khoản 2 Điều 476 BLDS 2005 thì thỏa thuận này là vượt quá quy định tại Quyết định số 2868/QĐ-NHNN ngày 29/11/2010 là 9%/năm nên Hội đồng xét xử chấp nhận tính lãi bằng 150% của mức lãi cơ bản = 1.125%/tháng. Tại Điều 6 của Hợp đồng các bên thỏa thuận thời gian góp 18 tháng từ ngày 28/7/2010, do đó Hội đồng xét xử xác định lãi chậm trả tính từ ngày 28/7/2010 đến ngày xét xử sơ thẩm 29/10/2019 là 09 năm 3 tháng 01 ngày x 9.520.000 đồng x 1.125%/tháng = 11.891.670 đồng. Tổng cộng gốc và lãi bị đơn Phan Thị P phải trả cho nguyên đơn Hồ Thị Thanh S là 21.411.670 đồng
Tại Điều 2 Hợp đồng trả góp mua xe máy ký ngày 21/11/2012 có nội dung “Bà Thanh S không thu tiền trước bạ và biển số thành phố, khi nào bên mua xe thanh toán hết nợ cho bà Thanh S thì người đứng tên xe ký giấy bán có xác nhận của chính quyền địa phương, như vậy bà Thanh S hết trách nhiệm về mặt giấy tờ đối với bên mua. Tiền sang tên trước bạ lần 2 do bên mua chịu tiền thuế trước bạ và tự đến phòng trước bạ của Chi cục thế để nộp”. Như vậy, thỏa thuận này phù hợp với các quy định tại Điều 461 và khoản 2 Điều 439 BLDS 2005. Do đó, khi bị đơn trả xong nợ và có yêu cầu chuyển quyền sở hữu đối với xe mô tô biển số 78M1-NNNN thì nguyên đơn Hồ Thị Thanh S, ông NLQ2 phải thực hiện các thủ tục chuyển quyền sở hữu xe cho bị đơn; tiền thuế trước bạ lần 02 do bị đơn nộp.
Về yêu cầu của nguyên đơn buộc ông NLQ1 có trách nhiệm cùng bị đơn trả số nợ mua xe: Xét thấy tại Hợp đồng trả góp xe gắn máy ngày 28/7/2010, ông NLQ1 ký tên tại mục người bảo lãnh nên đã phát sinh nghĩa vụ của người bảo lãnh. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc người bảo lãnh NLQ1 thực hiện nghĩa vụ của mình.
Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 BLTTDS, Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 về án phí, lệ phí Toà án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227 và 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các các Điều 428, 431, 432, 438, 439, 461, 305 BLDS 2005;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Hồ Thị Thanh S buộc bị đơn bà Phan Thị P phải trả cho nguyên đơn Hồ Thị Thanh S tiền nợ mua xe máy là 21.411.670 đồng (trong đó tiền gốc 9.520.000 đồng, tiền lãi 11.891.670 đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (tức là ngày 30/10/2019) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của BLDS 2015.
Trong trường hợp bị đơn Phan Thị P không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan NLQ1 có trách nhiệm trả hết số nợ hoặc số nợ còn lại thay cho Phan Thị P.
Sau khi bị đơn Phan Thị P trả hết nợ và có yêu cầu chuyển quyền sở hữu xe mô tô biển số 78M1-NNNN, số máy 232007, số khung 002007 thì nguyên đơn Hồ Thị Thanh S, ông NLQ2 có trách nhiệm hoàn tất các thủ tục chuyển quyền sở hữu cho bị đơn; lệ phí chuyển quyền sở hữu (Sang tên và tiền thuế trước bạ ) lần 02 do bị đơn Phan Thị P nộp.
Về án phí: Bị đơn Phan Thị P phải chịu 1.070.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn Hồ Thị Thanh S không phải chịu án phí dân sự nên được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí 320.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 10512 ngày 26/3/2013 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: -VKSND thành phố Tuy Hòa -TAND tỉnh Phú Yên -Các đương sự -Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa -Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Thúy Hằng |