- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Huy H phạm tội cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi,…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Huy H phạm tội Cố ý gây thƣơng tích.
- Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 104 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 99/2018/HSST Ngày 02-5-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Liễng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Hoàn.
2. Bà Trần Thị Ngọc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Trung Hiếu, là Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thắng Lợi - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 47/2018/TLST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2018 theo quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 93/2018/HSST-QĐ ngày 10 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo:
Lê Huy H, sinh năm 1982 tại tỉnh Ninh Bình; thƣờng trú: Tổ 21, phƣờng N, thành phố T, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: Lớp 9/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; con ông Lê Khả H, sinh năm 1946 và bà Tào Thị H, sinh năm 1947; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 26/11/2017, có mặt.
Bị hại: Anh Nguyễn Minh T, sinh năm 1983; thƣờng trú: Thôn G 1, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Định; địa chỉ: Bãi xe Q, khu phố B, phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Phạm Đức C, sinh năm 1972; địa chỉ: Khu phố B, phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.
Người làm chứng: Anh Vũ Văn N, sinh năm 1993; địa chỉ: Bãi xe Q, khu phố B, phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.
Người giám định: Ông Nguyễn G và Trần Văn H, là giám định viên thuộc Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Đồng Nai, địa chỉ: Số 4, đƣờng 30/4, phƣờng Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 26/11/2017, Lê Huy H đang ngủ trong cabin xe đầu kéo biển số 61C-179.89 ở bãi xe Q thuộc khu phố B, phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng thì anh Vũ Văn N là nhân viên bảo vệ bãi xe đến gõ cửa cabin đánh thức H dậy và báo cho H biết là xe mô tô biển số 61D1-722.40 của Hbị đổ xuống vũng nƣớc gần đƣờng đi. H thấy anh Nguyễn Minh T đang dời xe container trong bãi, H đi đến nói chuyện với anh T, anh T thừa nhận đã làm đổ xe của H, hai bên xảy ra cãi nhau. Anh T dùng tay đấm vào mặt của H làm bầm mắt trái, H đi về cabin xe đầu kéo biển số 61C-179.89 lấy 01 dao dài 30cm, mũi nhọn chạy đến, leo lên cabin xe của anh T và dùng dao đâm, chém nhiều nhát vào ngƣời anh T gây thƣơng tích ở vùng đầu, vai trái, lƣng. Anh T và H giằng co nhau nên cả hai rơi từ cabin xuống đất, anh T vùng dậy bỏ chạy và đƣợc ngƣời dân đƣa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa khu vực Thủ Đức. H bị Công an phƣờng A bắt giữ.
Vật chứng: 01 dao bằng kim loại, màu trắng, mũi nhọn dài khoảng 30 cm.
Theo Kết luận giám định pháp y số 0992/GĐPY/2017 ngày 01/12/2017 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Đồng Nai kết luận thƣơng tích của anh Nguyễn Minh T nhƣ sau:
“1. Dấu hiệu chính qua giám định:
Vết thƣơng vai trái thấu ngực gây tràn dịch màng phổi trái đã đƣợc điều trị nội khoa, hiện vẫn còn tràn dịch màng phổi trái lƣợng vừa (áp dụng chƣơng 4, điều III, mục 2) Tỷ lệ 20%.
Vết thƣơng trán đỉnh trái kích thƣớc 3,5 x 0,2cm, vết thƣơng vai trái kích thƣớc 4,5 x 0,2cm và vết thƣơng lƣng phải kích thƣớc 3,5 x 0,2cm (áp dụng chƣơng 9, điều I, mục 1) Tỷ lệ 3%.
2. Tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây nên tại thời điểm giám định là 22%. Vật gây thƣơng tích là vật sắc nhọn”.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Đồng Nai trên.
Đối với hành vi của anh Nguyễn Minh T dùng tay đấm vào mặt Lê Huy H. Tại cơ quan điều tra, Lê Huy H từ chối giám định, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An đã Quyết định xử phạt vi phạm hành chính Nguyễn Minh T với số tiền 2.500.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 65/QĐ - KSĐT ngày 26 tháng 02 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Lê Huy H về tội “Cố ý gây thƣơng tích” theo điểm đ, khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ, khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và bị cáo đã tự thỏa thuận giải quyết nên không đề nghị xem xét.
Xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 dao bằng kim loại, màu trắng, mũi nhọn dài khoảng 30 cm.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi nhƣ cáo trạng truy tố; tại phần nói lời sau cùng, bị cáo xin lỗi bị hại và xin đƣợc Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng; bị hại, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và ngƣời làm chứng cũng không khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung: Khoảng 22 giờ 30 phút, ngày 26/11/2017, tại bãi xe Q thuộc khu phố B, phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng, Nguyễn Minh T trong lúc dời xe đã làm đổ xe mô tô biển số 61D1-722.40 của H nên giữa hai bên xảy ra cãi nhau. Nguyễn Minh T dùng tay đấm vào mặt của H gây bầm ở mắt trái, Lê Huy H liền chạy về cabin xe đầu kéo biển số 61C-179.89 lấy 01 dao bằng kim loại màu trắng, dài khoảng 30cm, mũi nhọn chạy đến đâm, chém nhiều nhát vào ngƣời anh T gây thƣơng tích ở vùng đầu, vai trái, lƣng. Theo kết luận giám định pháp y số 0992/GĐPY/2017 ngày 01/12/2017 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Đồng Nai thì tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể của bị hại tại thời điểm giám định là 22%, vật gây thƣơng tích là vật sắc nhọn (Bút lục số 47,48).
Theo quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015:
1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;
.........................................
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:
......
đ. Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.”
Nhƣ vậy, hành vi của bị cáo Lê Huy H chỉ vì chút mâu thuẫn nhỏ đã dùng dao là “hung khí nguy hiểm” theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 gây thƣơng tích cho bị hại với tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể tại thời điểm giám định là 22% đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thƣơng tích” theo quy định tại điểm đ, khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015. Hành vi của bị cáo xảy ra trƣớc ngày Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực, tuy nhiên căn cứ vào điểm h, khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội và khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 về áp dụng nguyên tắc có lợi cho ngƣời phạm tội thì khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 có khung hình phạt từ 02 năm đến 06 năm còn khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999 đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2009 có khung hình phạt từ 02 năm đến 07 năm nên cần xem xét áp dụng khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo theo hƣớng có lợi. Cáo trạng số 65/QĐ - KSĐT ngày 26 tháng 02 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với các bị cáo là có căn cứ đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của ngƣời khác đƣợc pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tù tƣơng xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đƣợc xem xét khi quyết định hình phạt: Tại cơ quan điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với ngƣời phạm tội.
Về nhân thân: Bị cáo là ngƣời lao động làm thuê, có nhân thân tốt thể hiện chƣa có tiền án tiền sự.
Về trách nhiệm dân sự: Tại cơ quan điều tra, bị hại yêu cầu bị cáo bồi thƣờng chi phí khám, chữa bệnh tại bệnh viện (có hóa đơn) là 4.530.000 đồng; tiền khám bệnh, mua thuốc sau xuất viện là 3.710.000 đồng và chi phí đi lại khám, chữa bệnh là 2.760.000 đồng (không hóa đơn); tiền công lao động trong những ngày nghỉ là 15.000.000 đồng (30 ngày); tiền công ngƣời chăm sóc là 2.000.000 đồng; tổn thất tinh thần 2.000.000 đồng; tổng cộng là 30.000.000 đồng (Bút lục 44). Tại cơ quan điều tra, bị cáo đã tự nguyện bồi thƣờng cho bị hại. Tại phiên tòa, bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thƣờng thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Xử lý vật chứng: Xét dao bằng kim loại, màu trắng, mũi ngọn dài khoảng 30cm bị cáo sử dụng làm công cụ phạm tội, cần tịch thu tiêu hủy.
Mức hình phạt, về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng nhƣ đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên chấp nhận.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lê Huy H phạm tội Cố ý gây thƣơng tích.
Áp dụng điểm đ, khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Lê Huy H 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/11/2017.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy dao bằng kim loại, màu trắng, mũi ngọn dài khoảng 30cm.
(Biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/02/2018).
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lê Huy H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại có mặt đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận: - Bị cáo (01); - Ngƣời tham gia tố tụng (02); - VKSND thị xã Dĩ An (01); - Công an thị xã Dĩ An (01); - Trại tạm giam CA tỉnh BD (01); - Chi cục THADS thị xã Dĩ An (01); - TAND tỉnh Bình Dƣơng (01); - Sở tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng (01); - Phòng PV 27 CA tỉnh BD (01); - Phòng PC 81 CA tỉnh BD (01); - UBND phƣờng N (01); - Lƣu: VT, HSVA (02). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Đỗ Thị Liễng |