- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Cảnh Tây - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Cảnh Tây phạm tội “Cướp giật tài sản”; xử phạt bị cáo Lê Cảnh Tây 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 99/2018/HS-ST Ngày: 21- 11 - 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngọc Lễ.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Cao Văn Thịnh – Cán bộ địa chính xã Giao Châu
Ông Lê Thanh Giang – Phó hiệu trưởng trường THPT Quất Lâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Cao Thanh Khang - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 98/2018/TLST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102/2018/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2018, đối với bị cáo:
Lê Cảnh Tây; sinh ngày 12 tháng 5 năm 2001 tại bản Nà Bè, xã Xá Lượng, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: bản Nà Bè, xã Xá Lượng, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: học sinh; trình độ học vấn: đang học lớp 11; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê cảnh Tám và bà Phan Thị Nghiêu; Tiền án; tiền sự: Không. Bị cáo hiÖn t¹i ngo¹i theo quyÕt ®Þnh cho b¶o l·nh sè 19 ngµy 19/9/2018 cña C¬ quan CS§T C«ng an huyÖn Giao Thuû. Có mặt.
- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: Bà Phan Thị Nghiêu, sinh năm 1975
Địa chỉ: Bản Na Bè, xã Xá Lượng, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Hồng – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nam Định.
- Người bị hại: Anh Trần Quang Tùng, sinh năm 1981
Địa chỉ: Xóm 5 Quyết Tiến, xã Giao Tiến, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định
- Người làm chứng:
+ Chị Vũ Thị Lụa, sinh năm 1987
Địa chỉ: Xóm 5 Quyết Tiến, xã Giao Tiến, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định
+ Anh Phạm Lâm Sung, sinh năm 1995
+ Chị Phan Thị Thuấn, sinh năm 1973
Đều có địa chỉ: Xóm 7 Quyết Tiến, xã Giao Tiến, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.
Tại phiên tòa: Có mặt bà Nghêu, bà Hồng; vắng mặt: Anh Tùng, chị Lụa, anh Sung, bà Thuấn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khi được nghỉ hè vào kho¶ng đầu tháng 6 năm 2018, Lê Cảnh Tây ra nhà bác là bà Phan Thị Thuấn ( là chị gái mẹ Tây) ở xóm 7 Quyết Thắng xã Giao Tiến huyện Giao Thủy tỉnh Nam Định chơi và kiếm việc làm thêm. Ngày 23 và 27/9/2018 Tây điều khiển xe máy BKS: 18G1-157.32 ( xe Tây mượn của anh họ là anh Phạm Lâm Sung ở xóm 7 Quyết Thắng xã Giao Tiến) đến cửa hàng điện thoại Tùng Lụa của anh Trần Quang Tùng để hỏi mua chiếc điện thoại Iphone 6S của cửa hàng nhưng Tây không đủ tiền mua nên nảy ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại của anh Tùng. Đến khoảng 18 giờ 30 ngày 30/7/2018 Tây điều khiển xe máy BKS 18G1 -157.32 đến cửa hàng điện thoại Tùng Lụa, đến nơi Tây dựng xe trước cửa hàng, quay đầu xe ra hướng quốc lộ và cắm chìa khóa điện sẵn trên xe ( với mục đích để dễ dàng tẩu thoát) rồi vào cửa hàng gặp chị Vũ Thị Lụa (Vợ anh Trần Quang Tùng) giả vờ hỏi mua chiếc điện thoai hôm trước, chi Lụa lấy chiếc máy điện thoại Iphone 6S đưa cho Tây xem rồi vào trong nhà, anh Tùng ra có trao đổi giá bán với Tây là 4.400.000 đồng gồm cả phụ kiện. Tây xem máy điện thoại rồi đưa lại cho anh Tùng và giả vờ ra ngoài nghe điện thoại với mục đích quan sát xem xung quanh có người không. Đến khoảng 20 giờ 30 thấy không có người xung quanh nên Tây quay vào cửa hàng và thỏa thuận mua chiếc điện thoại Iphone 6S không có phụ kiện của anh Tùng với giá 4.000.000 đồng, anh Tùng đồng ý lấy điện thoại trên đặt lên bàn quầy thì Tây yêu cầu mua thêm sạc và tai nghe. Khi anh Tùng quay người lại lấy cục sạc và tai nghe thì lợi dụng sơ hở của anh Tùng, Tây nhanh chóng lấy chiếc điện thoại chạy ra xe máy nổ máy bỏ chạy, anh Tùng hô hoán và đuổi theo nhưng không kịp. Sau khi lấy được điện thoại đến sáng ngày 31/7/2018 Tây bắt xe về nhà ở Nghệ An, đến 11 giờ cùng ngày sau khi được anh Phạm Lâm Sung điện thoại thông báo nên biết hành vi của mình đã bị phát hiện bằng camera của cửa hàng nên đến chiều cùng ngày Tây mang điện thoại chiếm đoạt được ra bưu điện gửi về nhờ bà Phan Thị Thuấn trả lại cho anh Tùng. Anh Tùng đã nhận lại chiếc điện thoại còn nguyên vẹn và đã bán chiếc điện thoại đó cho khách hàng sau đó nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.
Ngµy 16/8/2010 Héi ®ång ®Þnh gi¸ tµi s¶n huyÖn Giao Thuû ®· ®Þnh gi¸ trên hồ sơ x¸c ®Þnh: 01 chiÕc m¸y ®iÖn tho¹i Iphone 6S bản 16 GB, máy dựng có trị giá là: 4.000.000 đồng.
Bản Cáo trạng số 100/CT-VKS ngày 08/11/2018 của Viê ên kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định đã truy tố bị cáo Lê Cảnh Tây về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê Cảnh Tây phạm tội “Cướp giật tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng. Giao bị cáo cho UBND xã nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Tùng đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì nên trách nhiệm dân sự không đặt ra.
Người đại diện hợp pháp cho bị cáo có ý kiến: Lời khai của bị cáo Tây tại phiên tòa đúng với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, bị cáo phạm tội một phần do sự buông lỏng quản lý, giáo dục của người thân, bị cáo chưa thành niên nên xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt.
Người bào chữa cho bị cáo có đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 36, Điều 91, Điều 100 Bộ luật hình sự giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm và không tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng: Bị cáo đã ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Giao Thủy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại và những người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ của vụ án có đủ cơ sở xác định: Do có ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại Iphone 6S của cửa hàng điện thoại Tùng Lụa ở xóm 5 Quyết Tiến xã Giao Tiến huyện Giao Thủy tỉnh Nam Định nên kho¶ng 20h30’ ngµy 30/7/2018 Lê Cảnh Tây vµo cöa hµng ®iÖn tho¹i Tùng Lụa gi¶ vê hái mua ®iÖn tho¹i vµ chép chiếc điện thoại Iphone 6S trÞ gi¸ lµ 4.000.000® nhanh chóng lên xe máy bá ch¹y. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 171 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy đã truy tố Lê Cảnh Tây về tội: “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ pháp luật.
[3] Về tính nguy hiểm của hành vi: Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo tuổi đời còn trẻ nhưng không chịu khó học tập, tu dưỡng rèn luyện bản thân. Nên cần phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự mới giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt cho gia đình và xã hội cũng như đáp ứng công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung.
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với bị cáo như sau:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa bị cáo tỏ ra ăn năn hối cải thành khẩn khai báo, sau khi phạm tội đã tự nguyện khắc phục hậu quả do hành vi của mình gây ra, gia đình bị cáo điều kiện hoàn cảnh kinh tế khó khăn; do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, điểm s, khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào tính chất mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội, nên Hội đồng xét xử thấy không cần buộc bị cáo phải tập trung cải tạo mà cho bị cáo hưởng án treo có sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và để bị cáo có cơ hội tiếp tục học tập tu dưỡng bản thân.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 171 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng”, bị cáo là người chưa thành niên. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt còn nguyên vẹn nên không đặt ra trách nhiệm bồi thường.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 171; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65,Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Lê Cảnh Tây phạm tội “Cướp giật tài sản”; xử phạt bị cáo Lê Cảnh Tây 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Lê Cảnh Tây cho UBND xã Xá Lượng, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An giám sát giáo dục trong thời gian thử thách (trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự).
Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 2 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Lê Cảnh Tây phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo , người bào chữa cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niên yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Bị cáo;
- TAND tỉnh Nam Định;
- VKSND tỉnh + huyện;
- Chi cục THADS huyện;
- Lưu hồ sơ.
Ông Ngọc Lễ THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Văn Thịnh Lê Thanh Giang
Ông Ngọc Lễ
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh: 01 bản; - VKSND Tỉnh + huyện: 02 bản; - Chi cục THADS huyện: 01 bản; - Công an huyện: 02 bản; - Bị cáo: 01 bản; - Bị hại: 01 bản; - Hồ sơ vụ án: 02 bản; - Lưu văn phòng. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ ..................... | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ông Ngọc Lễ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Quốc Tuấn |