- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Nguyễn Ngọc L và anh Phan Văn H ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Ngọc L, cho chị Nguyễn Ngọc L được ly hôn với anh Phan Văn H.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 99/2018/HNGĐ-ST Ngày 14 - 5 - 2018 “V/v ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tiêu Hồng Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đỗ Biên Ải
Bà Phạm Thị Hà
- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Chí Đệ là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.
Ngày 14 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 27/2018/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 01 năm 2018 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 99/2018/QĐXXST– HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2018, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1989; Địa chỉ: Ấp A, xã N, huyện U, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Anh Phan Văn H, sinh năm 1987; Địa chỉ: Ấp B, xã Q, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.
Tại phiên tòa chị L có mặt, anh H vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 24/01/2018 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Ngọc L trình bày:
Về hôn nhân: Chị với anh Phan Văn H tự nguyện chung sống với nhau năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện U. Trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm dẫn đến thường xuyên cãi vã nhau, được gia đình hai bên hàn gắn nhiều lần nhưng không thành nên vợ chồng đã ly thân từ năm 2013 cho đến nay. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H.
Về con chung: Chị L xác định vợ chồng không có con chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản và nợ: Chị L xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ ai và cũng không ai nợ lại vợ chồng, nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án trực tiếp tống đạt thông báo thụ lý vụ án cho anh Phan Văn H, hai lần thông báo hòa giải và hai lần triệu tập xét xử nhưng anh H không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của chị L, không tham gia hòa giải và xét xử.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Anh Phan Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh H.
Về hôn nhân: Chị L với anh H chung sống với nhau năm 2010, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn. Tại Điều 8 và Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình 2014, thì mối quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Ngọc L với anh Phan Văn H được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Về nguyên nhân mâu thuẫn: Theo chị L xác định trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã nhau, gia đình hai bên hàn gắn nhiều lần nhưng không thành, vợ chồng đã ly thân từ năm 2013 cho đến nay. Tại phiên tòa, chị L xác định không còn tình cảm với anh H và không thể tiếp tục chung sống với anh H được nữa nên vẫn giữ yêu cầu được ly hôn với anh H; đối với anh Phan Văn H, mặc dù đã biết được nội dung khởi kiện xin ly hôn của chị L, nhưng anh H không có ý kiến gì đối với yêu cầu của chị L, điều này cho thấy anh H đã không mong muốn hàn gắn mối quan hệ hôn nhân này nữa. Hội đồng xét xử xét thấy thời gian chị L và anh H ly thân đã lâu, tình trạng hôn nhân giữa chị L với anh H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu của chị Lành cho chị L được ly hôn với anh H là phù hợp.
Về con chung: Chị L xác định trong thời gian chung sống chị và anh H không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết; đối với anh H không có ý kiến gì về con chung, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản và nợ: Chị L xác định trong thời gian chung sống chị và anh H không có tài sản chung, không có nợ ai và cũng không ai nợ lại anh chị, không yêu cầu Tòa án giải quyết; đối với anh H không có ý kiến gì về tài sản và nợ chung, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị L phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Ngọc L, cho chị Nguyễn Ngọc L được ly hôn với anh Phan Văn H.
2. Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm chị Nguyễn Ngọc L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), chị L đã nộp tạm ứng 300.000 đồng tại biên lai số 0009474 ngày 24/01/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi, được chuyển thu.
3. Về quyền kháng cáo: Chị L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Đầm Dơi; - THA huyện Đầm Dơi; - TAND tỉnh Cà Mau; - UBND xã N, huyện U, T.Cà Mau; - Lưu VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Tiêu Hồng Phượng |