vanban.org

Bản án 99/2017/HSST — Hình sự

TAND Quận 11, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 02/11/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Thạch Văn T, Nguyễn Tấn P phạm “Tội cướp giật tài sản”.

Phạt tiền bị cáo số tiền là 10.000.000đ (Mười triệu đồng). Kể từ ngày cơ quan thi hành án chủ động ra quyết định thi hành án, cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "136.Tội cướp giật tài sản (Bộ luật hình sự năm 1999) - phạm tội cướp giật tài sản (điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Thạch Văn T, Nguyễn Tấn P phạm “Tội cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

_________________
Bản án số: 99/2017/HSST
Ngày: 02/11/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Duyên

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thanh Bình

2. Ông Huỳnh Anh Vũ

Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Hoài

Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 11 Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Doãn Đại - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 11 năm 2017, tại phòng xử án của trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11 xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 35/HSST ngày 03 tháng 5 năm 2017 đối với các bị cáo:

Họ và tên: Thạch Văn T, tên gọi khác: Đủi; giới tính: Nam; sinh ngày: 19/10/1993; tại: Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở hiện nay: đường LLQ, Phường M, Quận XI, Thành phố H; nghề nghiệp: Làm công; trình độ văn hóa: 1/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn Tựu và bà Thạch Thị Lùn; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 05/9/2011, bị đưa vào trường giáo dưỡng số 4 theo Quyết định 796/QĐ-UBND ngày 01/9/2011, thời hạn 24 tháng; bị tạm giam từ ngày: 28/6/2017 (Có mặt tại phiên tòa)

Họ và tên: Nguyễn Tấn P, tên gọi khác: Lưu Bị, Bị; giới tính: Nam; sinh ngày: 14/6/1992; tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: đường LLQ, Phường B, Quận XI, Thành phố H; Chỗ ở: đường HB, Phường B, Quận XI, Thành phố H; nghề nghiệp: Làm công; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Nhàn và bà Trương Tích Khanh; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 25/4/2013, bị Tòa án nhân dân Quận 11 xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án số 25/2013/HSST; bị tạm giam từ ngày: 28/6/2017 (Có mặt tại phiên tòa)

Người bị hại: Anh Phạm Cao H, sinh năm: 1997; địa chỉ: đường 762 đường HB, Phường M, Quận XI, Thành phố H. (vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Văn Xuyên, sinh năm: 1986; địa chỉ: đường 3/2, Phường MS, Quận XI, Thành phố H. (vắng mặt)

Bà Thạch Thị Lùn, sinh năm: 1973; địa chỉ: đường LLQ, Phường M, Quận XI, Thành phố H. (có mặt)

NHẬN THẤY:

Bị cáo Thạch Văn T và Nguyễn Tấn P bị Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 27/3/2017, Thạch Văn T điều khiển xe mô tô biển số 63B9-490.13 đến nhà Nguyễn Tấn P rủ P đi cướp giật tài sản bán lấy tiền tiêu xài. P đồng ý. T điều khiển xe chở P ngồi sau lưu thông trên nhiều tuyến đường để tìm tài sản cướp giật. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, Thành điều khiển xe đến cây xăng trên đường Hồng Bàng, Quận 11 đổ xăng thì trông thấy anh Phạm Cao H đang đi bộ hướng từ đường Hồng Bàng vào hẻm 708 đường Hồng Bàng, Phường 01, Quận 11 và trên tay anh H đang cầm điện thoại di động sử dụng nên chỉ cho P. Sau đó, Thành điều khiển xe chở P từ phía sau chạy đến trước số 708/6 đường Hồng Bàng, Phường 01, Quận 11 thì áp sát bên trái anh H để P ngồi sau dùng tay phải giật điện thoại di động rồi tăng ga tẩu thoát. Anh H chạy bộ đuổi theo và tri hô. Anh Ngô Tấn D đang ngồi trước nhà số 708/38 đường Hồng Bàng nghe tri hô nên đã dùng chân đạp vào bụng T làm ngã xe. T và P bỏ xe, chạy bộ theo hai hướng khác nhau. P tẩu thoát, riêng T bỏ chạy đến khu vực Cầu Mé thuộc địa bàn Phường 3, Quận 11 thì bị tổ tuần tra Cảnh sát hình sự đặc nhiệm Công an Quận 11 phát hiện kiểm tra mời về trụ sở để làm việc. Đồng thời anh H đến Công an Phường 1, Quận 11 trình báo sự việc. Công an Phường 01, Quận 11 đã lập hồ sơ chuyển giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 11 xử lý điều tra.

Tại Kết luận định giá tài sản số 46/KLĐGTS ngày 04/4/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 11 xác định chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 màu vàng đã qua sử dụng có giá trị là 5.000.000đồng.

Do chưa đủ căn cứ để khởi tố đối với Thạch Văn T nên ngày 31/3/2017, Cơ quan điều tra đã trả tự do cho T và tiếp tục điều tra thu thập chứng cứ để xử lý đối với Thành và P. Ngày 27/6/2017 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 11 đã ra quyết định khởi tố bị can, lệnh bắt tạm giam đối với Thạch Văn T, Nguyễn Tấn P.

Tại Cơ quan điều tra, T, P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. P khai sau khi chiếm đoạt được chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 màu vàng của anh Hùng, đã đem bán cho anh Nguyễn Văn X tại cửa hàng điện thoại di động số 1563 đường 3/2, Phường 16, Quận 11 được 3.100.000đồng. Do không biết đây là tài sản do phạm tội mà có nên anh X đã bán lại chiếc máy điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 màu vàng cho khách vãng lai nên Cơ quan điều tra không thu hồi được.

Vật chứng vụ án:

01 xe mô tô biển số 63B9-490.13 có số khung RLHJC4326BY116632, số máy JC43E-6032177 là phương tiện T sử dụng đi cướp giật. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 11 tiến hành giám định số khung, số máy, kết quả không đổi. Qua xác minh biển số 63B9-490.13 được cấp cho xe có số máy VTMZS150FMG2000161791, số khung VTMPCG0012T020604 do anh Võ Thanh T đứng tên giấy đăng ký xe. Anh T cho biết đã bán xe này cho một người đàn ông (không rõ lai lịch). Xe có số khung RLHJC4326BY116632, số máy JC43E-6032177 có biển số đăng ký là 59M1-073.74 do anh Lý Thành P đứng tên giấy đăng ký xe. Hiện anh P cùng gia đình đã xuất cảnh sang Hoa Kỳ năm 2014 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 không thể tiếp tục điều tra làm rõ. Thành khai xe này có được là mua của một người đàn ông (không rõ lai lịch) thông qua mạng xã hội. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 11 đã đăng báo tìm chủ sở hữu chiếc xe nêu trên.

Về dân sự: Bà Thạch Thị Lùn là mẹ của bị cáo T đã bồi thường cho anh H số tiền 6.000.000 đồng. Anh H không yêu cầu bồi thường gì thêm. Đồng thời, bà Lùn yêu cầu bị cáo P bồi thường lại cho bà Lùn số tiền 6.000.000đồng vì khi chiếm đoạt được tài sản, P đã bán và tiêu xài cá nhân hết.

Theo Bản cáo trạng số 86/Ctr-VKS ngày 05 tháng 10 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 đã truy tố bị cáo Thạch Văn T và Nguyễn Tấn P về tội: “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay:

Bị cáo Thạch Văn T và Nguyễn Tấn P thừa nhận: Vào khoảng 18 giờ ngày 27/3/2017, tại trước số 708/6 đường Hồng Bàng, Phường 01, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh, Thạch Văn T có điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Tấn P giật chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 màu vàng rồi tăng ga bỏ chạy. Sau đó bị cáo Thành bị bắt giữ còn bị cáo P tẩu thoát cùng tang vật vụ án. Đến ngày 27/6/2017 cơ quan cảnh sát điều tra đã bắt giữ được P như đã nêu.

Bà Thạch Thị Lùn: Tự nguyện không yêu cầu các bị cáo thanh toán số tiền đã bồi thường cho anh Phạm Cao H.

Trong phần luận tội, sau khi đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 kiểm tra toàn diện các chứng cứ của vụ án, kiểm tra các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ và đã kết luận có đủ căn cứ để truy tố và xét xử bị cáo về tội: “Cướp giật tài sản” theo Điểm d Khoản 2 Điều 136 của Bộ Luật Hình sự như Cáo trạng đã truy tố là đúng người, đúng tội. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d Khoản 2 Điều 136; Điểm b, p Khoản 1 Điều 46 đối với bị cáo Thạch Văn T xử phạt bị cáo mức án từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm tù; áp dụng điểm d Khoản 2 Điều 136; Điểm p Khoản 1 Điều 46 đối với bị cáo Nguyễn Tấn P xử phạt bị cáo mức án từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm tù. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 5 Điều 136 phạt tiền bị cáo Nguyễn Tấn P số tiền là 10.000.000đồng.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 41 của Bộ luật Hình sự, Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Vật chứng vụ án:

- Tiếp tục đăng báo tìm kiếm chủ sở hữu các xe mô tô thu giữ tại nơi ở của bị cáo, nếu quá hạn luật định không ai đến nhận thì tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Về dân sự: Bà Thạch Thị Lùn là mẹ của bị cáo T đã tự nguyện bồi thường cho anh H số tiền 6.000.000 đồng. Anh H không yêu cầu bồi thường gì thêm. Đồng thời, bà Lùn không yêu cầu các bị cáo có phải thanh toán lại cho bà số tiền trên.

Bị cáo thừa nhận những hành vi sai phạm như cáo trạng truy tố, không có ý kiến tranh luận, bào chữa.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;

XÉT THẤY:

Vào khoảng 18 giờ ngày 27/3/2017, tại trước số 708/6 đường Hồng Bàng, Phường 01, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh, Thạch Văn T điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Tấn P giật chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 màu vàng của anh Phạm Cao H rồi tăng ga bỏ chạy.

Hành vi sai phạm của các bị cáo đã xâm hại đến tài sản của người khác, xâm hại đến quyền sở hữu của công dân được pháp luật bảo vệ; các bị cáo sử dụng xe mô tô làm phương tiện phạm tội do đó bị cáo phạm “Tội cướp giật tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm d Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do đó áp dụng Điểm p Khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Bị cáo T lần đầu phạm tội, gia đình bị cáo T đã bồi thường thiệt hại cho người bị hại nên áp dụng Khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự.

Về vật chứng vụ án:

- 01 xe mô tô có số khung RLHJC4326BY116632, số máy JC43E-6032177 cần tiếp tục đăng báo kiếm tìm chủ sở hữu nếu quá thời hạn luật định không ai đến nhận thì tịch thu sung quỹ Nhà nước.

- Tịch thu tiêu hủy biển số 63B9-490.13 do không còn giá trị sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện không yêu cầu các bị cáo phải có trách nhiệm thanh toán lại số tiền 6.000.000 đồng mà bà Lùn đã bồi thường cho anh Phạm Cao H.

Đối với bị cáo Nguyễn Tấn P sau khi chiếm đoạt được tài sản đã bán lấy tiền tiêu xài hết, do vậy cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo số tiền 5.000.000đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Thạch Văn T, Nguyễn Tấn P phạm “Tội cướp giật tài sản”.

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 136; Điểm p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự; phạt bị cáo Thạch Văn T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành phạt tù tính từ ngày 28/6/2017 (nhưng được trừ thời hạn tạm giam trước từ ngày 28/3/2017 đến ngày 31/3/2017)

Áp dụng điểm d Khoản 2, Khoản 5 Điều 136; Điểm p Khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự; phạt bị cáo Nguyễn Tấn P 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành phạt tù tính từ ngày 28/6/2017.

Phạt tiền bị cáo số tiền là 10.000.000đ (Mười triệu đồng).

Kể từ ngày cơ quan thi hành án chủ động ra quyết định thi hành án, cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Áp dụng Điều 41 của Bộ luật Hình sự; Căn cứ Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Cần tiếp tục đăng báo kiếm tìm chủ sở hữu nếu quá thời hạn 01 năm mà không ai đến nhận thì tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe mô tô Honda Wave RSX màu đen số khung RLHJC4326BY116632, số máy JC43E-6032177.

Tịch thu tiêu hủy biển số 63B9-490.13.

(Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 108/LNK ngày 29/3/2017)

Căn cứ Điều 98, Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa 14; Danh mục về án phí, lệ phí Tòa án (ban hành kèm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016);

Án phí hình sự sơ thẩm, mỗi bị cáo phải chịu là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.

Áp dụng Điều 231, 234 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Các bị cáo, bà Thạch Thị Lùn có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người bị hại, ông Nguyễn Văn Xuyên - người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Nơi nh n:

Cỡ chữ