- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Xác định cha cho con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 989/2023/HNGĐ-ST Ngày: 20/7/2023 V/v Xác nhận cha cho con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Tiến Trung.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Trần Thị Hiền.
2/ Bà Nguyễn Thị Tuyết Hạnh.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Trần Hoàng Phúc – Cán bộ Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân: Bà Nguyễn Thu Thương Thương, Kiểm sát viên - Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trong ngày 20 tháng 7 năm 2023 tại Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ lý số 1739/2022/TLST-HNGĐ ngày 03/11/2022 về việc “Tranh chấp xác nhận cha cho con” theo Quyết định xét xử số 274/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 04/7/2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Vũ Kim H – Sinh năm: 1975; Số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx; Địa chỉ: 240/19A C, phường 13, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có đơn xin vắng mặt)
Bị đơn:
1/ Bà Phạm Thị X – Sinh năm: 1989; Địa chỉ: 557/14/14A Hương lộ 3, khu phố 9, phường H, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có đơn xin vắng mặt)
2/ Ông Nguyễn Quốc C – Sinh năm: 1987; Địa chỉ: tổ 3, ấp K, xã D, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiêng Giang. (Có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 10/10/2022 và lời khai trong quá trình giải quyết, nguyên đơn trình bày:
Ông và bà Phạm Thị X làm cùng công ty với nhau vào thời điểm năm 2014, khi quen biết thì bà Xuân nói đã ly hôn với chồng nên giữa hai bên đã phát sinh tình cảm và có quan hệ với nhau. Sau đó bà Phạm Thị X đã về quê sinh sống và sinh ra con trai tên là Nguyễn Phạm D N vào ngày 12/7/2015. Khi sinh ra trẻ Nguyễn Phạm D N thì bà Xuân đã đăng ký khai sinh cho trẻ có cha là ông Nguyễn Quốc C khi đó là chồng của của bà Xuân. Sau đó bà Xuân có nói cho ông biết là người con mà bà sinh ra không phải con của ông Nguyễn Quốc C mà là con của ông Vũ Kim H với bà Xuân. Sau khi nghe bà Xuân nói vậy ông Hưng đã làm giám định ADN thì được kết quả là trẻ Nguyễn Phạm Duy Nghìa là con của ông. Từ khi có kết quả giám định ông đã đề nghị bà Xuân đi làm thủ tục để cải chính khai sinh cho ông đứng tên là cha đẻ của trẻ Nguyễn Phạm D N nhưng bà Phạm Thị X không chịu và không thừa nhận ông là cha đẻ của trẻ Nguyễn Phạm D N. Nay ông đề nghị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xác định trẻ Nguyễn Phạm D N là con đẻ của ông Vũ Kim H.
Bị đơn bà Phạm Thị X vắng mặt tại phiên tòa: Tuy nhiên bà có bản tự khai và tại các buổi làm việc tại Tòa, bà thừa nhận trước đây khi đang còn trong thời kỳ hôn nhân với ông Nguyễn Quốc C thì có quan hệ tình cảm với ông Vũ Kim H, sau khi ông Cường phát hiện ra mối quan hệ giữa bà với ông Hưng thì bà đã bỏ về nhà cha, mẹ sinh sống. Cùng thời điểm đó phát hiện mình đã mang thai trẻ Nguyễn Phạm D N nhưng vẫn nghĩ là con với ông Nguyễn Quốc C, vì vậy bà đã làm giấy khai sinh cho con là con ruột của ông Nguyễn Quốc C và mình. Sau này ông Cường không thừa nhận có con chung với bà thì bà mới báo cho ông Vũ Kim H là trẻ Nguyễn Phạm D N là con của ông Vũ Kim H từ đó ông Hưng mới đi giám định ADN và xác đinh rõ đó là con của ông Vũ Kim H. Nay ông Vũ Kim H đề nghị xác định trẻ Nguyễn Phạm Duy Nghìa là con ruột của ông thì bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bị đơn ông Nguyễn Quốc C vắng mặt tại phiên tòa: Tuy nhiên vào ngày 22/6/2023 Tòa án đã tiến hành lấy lời khai của ông Nguyễn Quốc C thì ông Cường thừa nhận trước đây ông và bà Phạm Thị X là vợ chồng với nhau. Trong thời điểm chung sống tại Sài Gòn thì bà Xuân phát sinh tình cảm với người người đàn ông tên Hưng cùng công ty với bà Xuân. Sau khi trẻ Nguyễn Phạm D N được sinh ra thì ông có đi làm giám định ADN thì kết quả là không phải là con của ông với bà Xuân. Từ khi biết kết quả thì ông đã về Kiên Giang sinh sống và không liên quan gì với bà Xuân cũng như trẻ Nguyễn Phạm D N, nay ông Vũ Kim H đề nghị xác định trẻ Nguyễn Phạm D N là con ruột của ông thì ông Cường đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật và xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu về việc chấp hành đúng quy định tại bộ luật tố tụng dân sự của thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự và xác định: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đã thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình trong quá trình tham gia tố tụng, tuy nhiên về thời hạn chuẩn bị xét xử chưa đảm bảo đúng thời hạn theo quy định.
Về nội dung vụ án: Căn cứ Giấy khai sinh cho trẻ Nguyễn Phạm D N sinh ngày 12/7/2015 số 198 ngày 24/6/2016 do xã Nam Dong, huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông với tên mẹ là Phạm Thị X, tên cha là Nguyễn Quốc C có cơ sở xác định trẻ Nguyễn Phạm D N là được đăng ký khai sinh là con chung của bà Phạm Thị X và ông Nguyễn Quốc C trong thời kỳ hôn nhân.
Theo kết quả phân tích ADN của Hội đồng khoa học Công ty cổ phần dịch vụ phân tích di truyền – Gentis thì giữa ông Vũ Kim H và trẻ Nguyễn Phạm D N có huyết thống quan hệ cha con; đồng thời bà Phạm Thị X và ông Nguyễn Quốc C cũng xác nhận trẻ Nguyễn Phạm D N là con của ông Vũ Kim H. Như vậy, có đủ cơ sở xác định trẻ Nguyễn Phạm D N là con của ông Vũ Kim H nên việc ông Vũ Kim H yêu cầu Tòa án xác định là cha cho con là có cơ sở chấp nhận.
Từ phân tích trên, căn cứ Điều 89, khoản 2 Điều 101 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định trẻ Nguyễn Phạm D N là con của ông Vũ Kim H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Ông Vũ Kim H nộp đơn khởi kiện và đề nghị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị công nhận ông là cha ruột của là trẻ Nguyễn Phạm D N. Bà Phạm Thị X có địa chỉ: 557/14/14A Hương Lộ 3, khu phố 9, phường Bình Hưng Hòa, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, ông Nguyễn Quốc C có địa chỉ tại: Tổ 3, ấp Khu Tượng, xã Cửa Dương, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang. Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xác định đây là vụ án hôn nhân và gia đình “Tranh chấp về xác định cha cho con”, do vụ án có 02 bị đơn là bà Phạm Thị X và ông Nguyễn Quốc C, nguyên đơn đã chọn Tòa án nhân dân quận Bình Tân giải quyết theo quy định tại Điểm h, Khoản 1, Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do đó thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 4 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Nguyên đơn là ông Vũ Kim H, bị đơn là bà Phạm Thị X và ông Nguyễn Quốc C có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ Khoản 4 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
2. Xét yêu cầu của đương sự:
Ông Vũ Kim H yêu cầu Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xác định mình là cha ruột của trẻ Nguyễn Phạm D N, căn cứ yêu cầu trên của nguyên đơn Tòa án đã tiến hành trưng cầu giám định ADN của ông Vũ Kim H với ADN của trẻ Nguyễn Phạm D N tại Công ty cổ phần dịch vụ phân tích Di Truyền – Chi nhánh phía Nam.
Căn cứ phiếu kết quả phân tích ADN ngày 25/02/2023 Công ty cổ phần dịch vụ phân tích Di Truyền – Chi nhánh phía Nam thì Vũ Kim H và trẻ Nguyễn Phạm D N có quan hệ huyết thống CHA – CON có tần suất 99.9999999%
Kết quả giám đinh ADN trên phù hợp cới lời khai của nguyên đơn là ông Vũ Kim H, lời khai của bà Phạm Thị X và của ông Nguyễn Quốc C về việc xác định ông Vũ Kim H là cha ruột của trẻ Nguyễn Phạm D N và ông Nguyễn Quốc C không phải là cha ruột của trẻ Nguyễn Phạm D N. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Kim H về việc xác định trẻ Ngyễn Phạm Duy Nghĩa là con ruột của ông Vũ Kim H có căn cứ để chấp nhận. Để giải quyết vụ án được toàn diện và triệt để, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải tuyên bố rõ ông Vũ Kim H được quyền liên hệ với các cơ quan chức năng cụ thể là Ủy ban nhân dân xã nơi đăng ký khai sinh của trẻ Nguyễn Phạm D N để cải chính lại khai sinh mình là cha ruột của trẻ Nguyễn Phạm D N.
3. Về án phí:
Án phí hôn nhân về việc yêu cầu công nhận cha cho con là 300.000 đồng, ông Vũ Kim H tự nguyện nộp và được cấm trừ vào số tiền 300.000 đồng theo biên lai tạm thu án phí, lệ phí số AA/2022/0009970 ngày 03/11/2022, ông Vũ Kim H đã nộp đủ án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng khoản 4 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 40, Điều 228, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
- Áp dụng các Điều 89, Điều 101, Điều 102 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Tuyên bố ông Vũ Kim H là cha ruột của trẻ Nguyễn Phạm D N, sinh ngày 12/7/2015 theo giấy khai sinh số 198/2016 ngày 24/6/2016 của Ủy ban nhân dân xã Nam Dong, huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông.
Ông Vũ Kim H được quyền liên hệ với các cơ quan chức năng cụ thể là Ủy ban nhân dân xã nơi đăng ký khai sinh của trẻ Nguyễn Phạm D N để cải chính hộ tịch lại khai sinh thể hiện ông Vũ Kim H là cha ruột của trẻ Nguyễn Phạm D N.
2.Về án phí:
Án phí hôn nhân là 300.000 đồng ông Vũ Kim H phải nộp và được cấn trừ vào số tiền 300.000 đồng theo biên lai tạm thu án phí, lệ phí số AA/2022/0009970 ngày 03/11/2022, ông Vũ Kim H đã nộp đủ án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị.
Viện kiểm sát được quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Ký tên, ghi rõ họ tên)
(Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu)
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
QUẬN BÌNH TÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi giờ phút, ngày 20 tháng 7 năm 2023.
Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
Với Hội đồng xét xử(3) sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Tiến Trung.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Trần Thị Hiền.
2/ Bà Nguyễn Thị Tuyết Hạnh.
Trong ngày 20 tháng 7 năm 2023 tại Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ lý số 1739/2022/TLST-HNGĐ ngày 03/11/2022 về việc “Tranh chấp xác nhận cha cho con” theo Quyết định xét xử số 274/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 04/7/2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Vũ Kim H – Sinh năm: 1975; Số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx; Địa chỉ: 240/19A Trường Chinh, phường 13, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có đơn xin vắng mặt)
Bị đơn:
1/ Bà Phạm Thị X – Sinh năm: 1989; Địa chỉ: 557/14/14A Hương lộ 3, khu phố 9, phường Bình Hưng Hòa, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có đơn xin vắng mặt)
2/ Ông Nguyễn Quốc C – Sinh năm: 1987; Địa chỉ: tổ 3, ấp Khu Tượng, xã Cửa Dương, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiêng Giang. (Có đơn xin vắng mặt)
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật(8).
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,
QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU
Hội đồng xét xử biểu quyết 3/3
- Áp dụng khoản 4 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 40, Điều 228, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
- Áp dụng các Điều 89, Điều 101, Điều 102 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
2. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Tuyên bố ông Vũ Kim H là cha ruột của trẻ Nguyễn Phạm D N, sinh ngày 12/7/2015 theo giấy khai sinh số 198/2016 ngày 24/6/2016 của Ủy ban nhân dân xã Nam Dong, huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông.
Ông Vũ Kim H được quyền liên hệ với các cơ quan chức năng cụ thể là Ủy ban nhân dân xã nơi đăng ký khai sinh của trẻ Nguyễn Phạm D N để cải chính hộ tịch lại khai sinh thể hiện ông Vũ Kim H là cha ruột của trẻ Nguyễn Phạm D N.
2.Về án phí:
Án phí hôn nhân là 300.000 đồng ông Vũ Kim H phải nộp và được cấn trừ vào số tiền 300.000 đồng theo biên lai tạm thu án phí, lệ phí số AA/2022/0009970 ngày 03/11/2022, ông Vũ Kim H đã nộp đủ án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo, kháng nghị.
Viện kiểm sát được quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| (Ký tên, ghi rõ họ tên) | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) |