- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Văn T - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
- Tòa quyết gì? 1) Áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt Dương Văn T 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tich ”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ
- Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI ––––––––––––––– Bản án số: 986/2019/HS-PT Ngày: 27-12-2019 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Trần Nam Hà.
Các Thẩm phán: Ông Phạm Năng Thành và ông Phan Huy Cương.
- Thƣ ký phiên tòa: Ông Dương Tuấn Dũng - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Lưu Mạnh Hoan - Kiểm sát viên.
Ngày 27/12/2019 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 903/2019/TLPT-HS ngày 13/12/2019 theo Quyết định đưa vụ án hình sự ra xét xử phúc thẩm số 814/2019/QĐXXPT-HS ngày 17/12/2019 đối với bị cáo Dương Văn T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 102/2019/HS-ST ngày 04/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện C, thành phố Hà Nội.
Bị cáo có kháng cáo: DƢƠNG VĂN TIẾN, sinh năm 1989; ĐKNKTT và trú tại: Xóm TH, thôn V, xã V, huyện C, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 05/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Dương Văn H và bà Nguyễn Thị S; có vợ là Trần Thị C và 03 con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Chưa; bị cáo tại ngoại. Có mặt.
Người bị hại không có kháng cáo: Anh Chu Văn Th, sinh năm 1984; ĐKNKTT và trú tại: Xóm C, thôn V, xã V, huyện C, thành phố Hà Nội. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 03/12/2018, anh Chu Văn Th đi đến nhà anh Trần Văn Đ ở xóm TH, thôn V, xã V, huyện C, thành phố Hà Nội để đòi 3.000.000 đồng đã vay trước đó. Do anh Trần Văn Đ không trả nên 02 người đã xảy ra xô sát, đánh chửi nhau; được mọi người can ngăn nên anh Chu Văn Th đã đi về. Sau đó, Dương Văn T (Anh Đ là em vợ của Dương Văn T) đến chơi và được anh Trần Văn Đ kể lại sự việc vừa bị Th đánh. Sau khi nghe xong, Dương Văn T
1/4
nảy sinh ý định đánh anh Th để trả thù. T tìm thấy 01 chiếc kiếm bằng kim loại ở cổng nhà anh Đ và cầm kiếm đi tìm anh Th. Khi đi đến quán nước nhà ông Phan Văn Nh ở cùng thôn thì thấy anh Th đang ngồi trong quán. T đi đến chỗ anh Th ngồi, anh Th đứng dậy đối diện với T thì bị T dùng kiếm chém 01 nhát vào cánh tay phải. Được mọi người can ngăn nên T cầm kiếm đi về và vứt thanh kiếm tại bờ ao gần nhà T. Anh Chu Văn Th bị thương, được đưa đến Trạm y tế xã V sơ cứu, sau đó chuyển đến Bệnh viện đa khoa huyện TO cấp cứu, điều trị từ ngày 03/12/2018 đến ngày 09/12/2018 thì ra viện. Ngày 22/12/2018, anh Chu Văn Th có đơn đề nghị Cơ quan điều tra xử lý Dương Văn T theo pháp luật và yêu cầu Dương Văn T phải bồi thường các khoản viện phí, tiền chiếu chụp vết thương, tiền thuốc điều trị, xe đưa đi cấp cứu, thu nhập bị mất, tổn thất tinh thần, tổng các khoản là 60.000.000 đồng.
Tại bản kết luận giám định pháp y thương tích số 2592/C09-TT1 ngày 07/6/2019 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận: “Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể cho sẹo vết thương tại mặt sau ngoài khuỷu tay phải, không ảnh hưởng chức năng của anh Chu Văn Th tại thời điểm giám định là 02%; Cơ chế hình thành thương tích là do vật sắc gây nên”.
Bản án hình sự sơ thẩm số 102/2019/HS-ST ngày 04/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện Mđã áp dụng các điểm a , i khoản 1 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Dương Văn T 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; buô ̣c bi ̣ cáo bồ i thườ ng thương tich 14.486.000 đồng. Ngoài ra
́ bản án hình sự sơ thẩm còn quyết định biện pháp bảo đảm thi hành án , về án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 17/10/2019, bị cáo Dương Văn T kháng cáo đề nghị được hưở ng án treo và giảm bồi thường thiệt hại.
Tại phiên tòa: Bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo . Anh Chu Văn Th đề nghị xử lý bị cáo nghiêm minh theo quy định của pháp luật và yêu cầu bồi thường như bản án sơ thẩm đã tuyên. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội sau khi đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ các Điều 331; 332; 333 và 334; điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo về hình thức; không chấp nhận kháng cáo về nội dung, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm, cụ thể: Áp dụng các điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 48 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Dương Văn T 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tich”; buộc bị cáo bồi thường thương tích là 14.486.000 đồng.
́
2/4
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án này, các cơ quan và người tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; không ai có ý kiến thắc mắc, khiếu nại gì. Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định bị cáo có kháng cáo là hợp lệ, được chấp nhận.
Về nội dung: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 03/12/2018 tại quán nước nhà ông Phan Văn Nh ở thôn V, xã V, huyện C, thành phố Hà Nội, xuất phát từ mâu thuẫn trong việc vay nợ giữa anh Chu Văn Th và anh Trần Văn Đ (Anh Đ là em vợ của Dương Văn T), Dương Văn T đã dùng 01 thanh kiếm - Là hung khí nguy hiểm chém 01 nhát vào cánh tay phải gây tổn hại sức khỏe 02% cho anh Chu Văn Th. Hành vi nêu trên của Dương Văn T bị Tòa án cấp sơ thẩm kết án về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là đúng.
Xét kháng cáo của bị cáo Hội đồng xét xử nhận thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe, tinh thần của người khác; gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Mặc dù thương tích bị cáo gây ra cho bị hại là không đáng kể; tại Cơ quan điều tra và tại các phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo; nhân thân chưa tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu. Tuy nhiên, giữa bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn; bị cáo chỉ nghe kể lại có việc xô sát, cãi chửi nhau xuất phát từ việc vay nợ giữa anh Trần Văn Đ và anh Th trước đó nhưng bị cáo đã lấy hung khí, đi tìm chém anh Th; hành vi của bị cáo thể hiện thái độ côn đồ, hung hãn; cho đến nay bị cáo chưa bồi thường, khắc phục hậu quả; không thể hiện thái độ ăn năn hối cải. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng thêm tình tiết tặng nặng định khung “Có tính chất côn đồ” theo điểm i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo 06 tháng tù là đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm không có tình tiết mới nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo đề nghị được hưởng án treo của bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Chu Văn Th bị thương và phải điều trị thương tích tại Bệnh viện từ ngày 03/12/2018 đến ngày 09/12/2018. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các khoản bồi thường là tiền viện phí và tiền thuốc: 1.816.000 đồng; tiền chụp XQ: 220.000 đồng; tiền xe đưa đi cấp cứu: 200.000 đồng; tiền thu nhập thực tế bị mất trong 1 tháng: 7.500.000 đồng; tiền bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe: 1.000.000 đồng; tổn thất tinh thần: 3.000.000 đồng; tiền công người chăm sóc: 750.000 đồng. Tổng cộng, Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị cáo bồi thường một khoản là
3/4
14.486.000.000 đồng là có căn cứ, đúng pháp luật dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nên cần giữ nguyên.
Về án phí phúc thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án thì bị cáo phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ các điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Dương Văn T, giữ nguyên bản án sơ thẩm, cụ thể:
1.1) Áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt Dương Văn T 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tich ”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ
́
ngày bắt đầu thi hành án.
1.2) Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự; các Điều 584; 585; 586; 590 của Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo Dương Văn T phải bồi thường cho anh Chu Văn Th 14.486.000 đồng (Mười bốn triệu bốn trăm tám sáu ngàn đồng).
1.3) Bị cáo Dương Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - TAND Cấp cao tại Hà Nội; - VKSND Cấp cao tại Hà Nội; - TT Lý lịch tƣ pháp QG - Bộ Tƣ pháp; - VKSND thành phố Hà Nội; - Công an thành phố Hà Nội; - TAND huyện C; - VKSND huyện C; - Công an huyện C; - THADS huyện C; - UBND xã V, huyện C; - Bị cáo; - Bị hại; - Lƣu HS, VT. 4/4 | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Nam Hà |