vanban.org

Bản án 984/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Cẩm V ly hôn anh Huỳnh Văn H.

Về nuôi con chung: Giao con chung là Huỳnh Ngọc Gia H, sinh ngày: 10/6/2006 cho anh Huỳnh Văn H trực tiếp nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LY HÔN NguyễnThi Cẩm V - Huỳnh Văn H"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Cẩm V ly hôn anh Huỳnh Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ QUY NHƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 984/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 28 - 9 - 2023
V/v Ly hôn và tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN,TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Lan

2. Bà Nguyễn Thị V

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Nương là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Trần Thanh Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 647/2023/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2023 về ly hôn và tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 266/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Cẩm V, sinh năm: 1988

Địa chỉ: Tổ 2, khu phố 1, phường Th, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

Nơi cư trú: Số 293/62 Tr, phường D, thành phố P, tỉnh Gia Lai; (có đơn xin vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Huỳnh Văn H, sinh năm: 1982

Địa chỉ: Tổ 2, khu phố 1, phường Th, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cẩm V trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Huỳnh Văn H đăng ký kết hôn số 28 ngày 03/4/2006 tại UBND phường Th, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định, tự nguyện, có tìm hiểu. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh H thường xuyên ăn nhậu về nhà chửi bới đánh đập chị, sống không có trách nhiệm với vợ con. Vợ chồng cãi nhau nhiều lần và cha mẹ hai bên đã can ngăn giải hòa nhưng anh H tính nào tật đó vẫn không thay đổi. Đến năm 2015 vợ chồng mâu thuẫn gay gắt nên chị bỏ về nhà cha mẹ chị ở và tự sống ly thân từ đó cho đến nay.

Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị không thể nào chung sống với anh H được nữa nên chị quyết định xin ly hôn anh H để ổn định cuộc sống riêng.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Huỳnh Ngọc Gia H, sinh ngày: 10/6/2006. Sức khỏe cháu bình thường và hiện nay đang ở với anh H cùng bà nội. Ly hôn chị đồng ý anh H nuôi cháu H. Về việc cấp dưỡng nuôi con thì vợ chồng tự giải quyết không yêu cầu Tòa giải quyết.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự giải quyết không yêu cầu Tòa giải quyết.

Bị đơn anh Huỳnh Văn H,Tòa đã tống đạt thông báo hợp lệ nhưng vắng mặt.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Trong quá trình tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng. Riêng bị đơn anh Huỳnh Văn H không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa; đồng thời đề nghị: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Cẩm V và giao con chung là cháu Huỳnh Ngọc Gia H, sinh ngày: 10/6/2006 cho anh Huỳnh Văn H trực tiếp nuôi dưỡng. Về việc cấp dưỡng nuôi con chị V không yêu cầu nên Toà không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về sự vắng mặt của đương sự: Chị Nguyễn Thị Cẩm V là nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Còn anh Huỳnh Văn H là bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, nên theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.

Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Cẩm V và anh Huỳnh Văn H là hôn nhân hợp pháp. Chị V xin ly hôn anh H vì tình cảm vợ chồng không còn là do anh H thường xuyên ăn nhậu về nhà chửi bới đánh đập chị, sống không có trách nhiệm với vợ con. Đến năm 2015 vợ chồng mâu thuẫn gay gắt nên chị bỏ về nhà cha mẹ chị ở và tự sống ly thân đến nay. Nay chị không còn tình cảm với anh H nên chị yêu cầu được ly hôn anh H. Quá trình giải quyết vụ án anh H vắng mặt không đến Tòa làm việc. Tòa đã tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật yêu cầu anh H đến Tòa làm việc, tạo điều kiện cho anh H hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh H vắng mặt.

Xét thấy hôn nhân giữa chị V và anh H không còn thương yêu, quý trọng, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống vợ chồng. Do đó hôn nhân của anh, chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy yêu cầu ly hôn của chị V là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Chị V và anh H có 01 con chung là Huỳnh Ngọc Gia H, sinh ngày: 10/6/2006, sức khỏe cháu Hân bình thường và hiện nay đang ở với anh H cùng bà nội. Khi ly hôn chị V đồng ý anh H được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Hân. Về việc cấp dưỡng nuôi con thì vợ chồng tự giải quyết không yêu cầu toà giải quyết.

Xét thấy: Hiện nay cháu Huỳnh Ngọc Gia H có nguyện vọng muốn ở với anh H cùng với bà nội, ăn học bình thường. Xuất phát từ lợi ích mọi mặt của cháu Hân, do đó yêu cầu giải quyết việc nuôi con của chị V là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được HĐXX chấp nhận.

Về tài sản chung: Chị V không yêu cầu nên Tòa không giải quyết.

Về án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: Theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quộc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị Nguyễn Thị Cẩm V pH chịu 300.000đồng.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cẩm V là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Cẩm V ly hôn anh Huỳnh Văn H.

2. Về nuôi con chung:

- Giao con chung là Huỳnh Ngọc Gia H, sinh ngày: 10/6/2006 cho anh Huỳnh Văn H trực tiếp nuôi dưỡng.

- Về việc cấp dưỡng nuôi con: Chị V không yêu cầu nên Tòa không giải quyết.

Vì lợi ích của con khi cần thiết hai bên đều có quyền xin thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

Hai bên có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung, không bên nào được ngăn cản.

3. Về tài sản chung: Chị V không yêu cầu nên Tòa không giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Cẩm V pH chịu 300.000đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào tạm ứng án phí theo biên lai số 0004020 ngày 03/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn. Chị V đã nộp đủ án phí.

5. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người thi hành án dân sự, người pH thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án dân sự, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ