- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Nguyễn Thị Cẩm T được ly hôn với ông Phan Văn U.
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 980/2020/HNGĐ-ST Ngày: 15/9/2020 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Phương Nam
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Kim Liên
2. Ông Dương Văn Quí
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Quỳnh Như – Thư ký tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn tham gia phiên toà: Bà Hồ Thị Hiền – Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 298/2020/TLST-HNGĐ ngày 03/3/2020 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 225/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 27/7/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 175/2020/QĐST-HNGĐ ngày 17/8/2020, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Cẩm T (có mặt)
Địa chỉ thường trú: Số S ấp Th, xã T, huyện H, Tp.Hồ Chí Minh.
Địa chỉ cư trú: Số G ấp Đ, xã M, huyện C, tỉnh An Giang
2. Bị đơn: Ông Phan Văn U (vắng mặt)
Địa chỉ thường trú: Số S ấp Th, xã T, huyện H, Tp.Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, biên bản không tiến hành hòa giải được, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm T trình bày:
Bà T và ông Phan Văn U tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn ngày 22/3/2010 tại UBND xã Tân Hiệp, huyện Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh. Thời gian đầu kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Sau đó giữa vợ chồng thường phát sinh mâu thuẫn, hay tranh cãi. Năm 2011, bà T có nộp đơn xin ly hôn ở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, nhưng được tòa án động viên hòa giải nên rút đơn, không xin ly hôn nữa. Tuy nhiên cuộc sống vợ chồng vẫn không hạnh phúc do ông U không chung thủy. Bà T và ông U sống ly thân vào năm 2018. Đến năm 2019, bà T có quay lại chung sống với ông U được một thời gian nhưng mối quan hệ vợ chồng không được cải thiện. Từ tháng 7/2019, mâu thuẫn trở nên gay gắt, nguyên nhân do vợ chồng ngày càng bất đồng quan điểm sống, hay tranh cãi và xúc phạm nhau, vợ chồng chung sống không hòa hợp. Ông U không quan tâm chăm sóc gia đình. Bà T đã cố gắng hàn gắn gia đình nhiều lần, nói chuyện và khuyên giải ông U nhưng không có kết quả. Từ tháng 3/2020 đến nay, bà T và ông U sống ly thân. Trong thời gian sống ly thân, vợ chồng không có liên hệ với nhau. Nay bà T nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm yêu thương, vợ chồng không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau và mỗi người đều có cuộc sống riêng nên bà T yêu cầu ly hôn với ông Phan Văn U.
Về con chung: Bà T và ông U có 01 con chung tên Phan Thanh B (sinh ngày 25/02/2008). Cháu B hiện đang sống chung với bà T. Bà T yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông U cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Bị đơn ông Phan Văn U vắng mặt, không cung cấp lời khai, không đưa ra ý kiến, yêu cầu.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tuân thủ đúng pháp luật tố tụng dân sự về thụ lý vụ án, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ, hòa giải và thời hạn gửi hồ sơ đến Viện kiểm sát, tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử áp dụng, tuân thủ đúng trình tự thủ tục tố tụng, những người tham gia tố tụng chấp hành đúng và đầy đủ quy định pháp luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Cẩm T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÕA ÁN:
[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là tranh chấp ly hôn và bị đơn cư trú tại huyện Hóc Môn nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh theo qui định tại khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Toà án đã triệu tập, tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ nhưng bị đơn đều vắng mặt không lý do. Vì vậy, Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[4] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Cẩm T và ông Phan Văn U chung sống với nhau có đăng ký kết hôn. Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 50, Quyển số 01/2010 do Ủy ban nhân dân xã Tân Hiệp, huyện Hóc Môn cấp ngày 22/3/2010 thì đủ cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông U là hôn nhân hợp pháp.
[5] Xét yêu cầu ly hôn của bà T: Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, ông U không cung cấp lời khai, không giao nộp chứng cứ, không đưa ra ý kiến, yêu cầu nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bà T để làm cơ sở giải quyết vụ án. Theo như lời khai của bà T thì mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ năm 2011 và trở nên trầm trọng từ tháng 7/2019 do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Vợ chồng hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả, bà T và ông U sống ly thân từ tháng 3/2020 đến nay. Trong thời gian sống ly thân, vợ chồng không có liên hệ với nhau, mỗi người đều sống cuộc sống riêng của mình. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập và thông báo về phiên hòa giải nhưng ông U vẫn không đến Tòa án tham gia hòa giải, tham gia phiên tòa. Vì vậy, Tòa án không thể tiến hành hòa giải để vợ chồng trở về sống chung với nhau. Hiện nay, bà T vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông U. Từ đó, Hội đồng xét xử nhận định hôn nhân của bà T và ông U đang ở trong tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình để chấp nhận cho bà T được ly hôn với ông U.
[6] Về con chung: Bà T và ông U có 01 con chung tên Phan Thanh B (sinh ngày 25/02/2008). Bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung. Hội đồng xét xử nhận định cháu B hiện đang sống chung với bà T, yêu cầu của bà T phù hợp với nguyện vọng của cháu B cũng như phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình nên được chấp nhận.
[7] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà T không yêu cầu ông U cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử quyết định tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của ông U cho đến khi có yêu cầu.
[8] Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đồng, bà T phải chịu, nộp tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014);
Căn cứ điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; Danh mục án phí, lệ phí tòa án được ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Nguyễn Thị Cẩm T được ly hôn với ông Phan Văn U.
2. Về con chung: Giao con chung tên Phan Thanh B (sinh ngày 25/02/2008) cho bà Nguyễn Thị Cẩm T trực tiếp nuôi dưỡng.
Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của ông Phan Văn U cho đến khi có yêu cầu.
Khi cần thiết, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về án phí: Bà T phải nộp 300.000đồng án phí sơ thẩm và được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000đồng mà bà T đã nộp theo biên lai số AA/2019/0077661 ngày 03/3/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà T đã nộp đủ án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn không có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận : - Các đương sự; - VKSND H.Hóc Môn; - Chi cục THADS H.Hóc Môn; - UBND xã Tân Hiệp, H.Hóc Môn; - Lưu: hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÕA Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Ký tên, ghi rõ họ tên) (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) Đỗ Thị Phƣơng Nam |