vanban.org

Bản án 98/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hà Nội, TP. Hà Nội Tuyên án 08/04/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn L 28 (Hai mươi tám) tháng tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/01/2026.

Vật chứng, dân sự: Không Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "L - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn L 28 (Hai mươi tám) tháng tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/01/2026.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 256a Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 – HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2026/HS-ST
Ngày: 08/04/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Xuân Tuân

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hồ

Ông Nguyễn Văn Hùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọt – Thẩm tra viên chính Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 - Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Ngô Anh Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 04 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 71/2026/TLST-HS ngày 20 tháng 03 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2026/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 03 năm 2026, đối với:

Bị cáo: Nguyễn Văn L, sinh năm 1982; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Cụm X, thôn Bồng L, xã Ô D, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức Ch và bà Trần Thị D; có vợ; có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án số 47/2011/HSST ngày 14/9/2011, Tòa án nhân dân huyện Đan Ph xử phạt 30 tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” (đã chấp hành xong Bản án); Bị cáo đang bị tạm giam, tạm giữ từ ngày 07/01/2026. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1- Công an thành phố Hà Nội; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên ngày 31/12/2025, Nguyễn Văn L đi từ nhà đến nghĩa trang Liên H, Cụm X, xã Ô D, thành phố Hà Nội gặp một người đàn ông không quen biết, đeo khẩu trang và hỏi mua của người đàn ông này 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) ma túy Heroin, người đàn ông đồng ý nhận tiền và đưa cho L 01 gói giấy nhỏ bên trong là ma túy Heroin. L mang ma túy về nhà sử dụng bằng cách cho ma túy vào một mẩu giấy bạc, dùng bật lửa đốt lên rồi hút trực tiếp khói bằng miệng. Sau khi sử dụng xong, L đã vứt bỏ mẫu giấy bạc và bật lửa, L không nhớ đã vứt bỏ ở đâu. Đến khoảng 06 giờ 30 phút, ngày 06/01/2026, Nguyễn Văn L đi đến cơ sở điều trị Methadone ở Cụm Y, xã Ô D, thành phố Hà Nội để uống thuốc điều trị cai nghiện. Khi đến nơi, L bị Công an xã Ô D yêu cầu xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu của L, kết quả dương tính với ma túy (trên que xét nghiệm nước tiểu của L hiện 01 (một) vạch ở cột MOP nên lực lượng Công an đã lập biên bản và dưa L về trụ sở đề làm rõ sự việc.

Tại cơ quan điều tra Nguyễn Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của mình như đã nêu trên.

Tại bản Kết luận giám định số 24/2026/KLGĐĐC-TTPY ngày 07/01/2026 của Trung tâm pháp y – Sở y tế Hà Nội kết luận:

- Mẫu nước tiểu của Nguyễn Văn L giám định có tìm thấy chất ma túy là Morphine.

- Khi đối tượng sử dụng Heroin thì có chuyển hóa thành Morphine trong cơ thể

Bản Cáo trạng số 157/CT-VKS-ĐP ngày 29 tháng 10 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 - Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a, khoản 1, Điều 256a Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn L khai nhận hành vi đã thực hiện như nội dung nêu trên. Bị cáo cũng trình bày đã nhận thức việc làm của mình là sai pháp luật nên đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Hà Nội tại phiên tòa, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a, khoản 1, Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo L từ 26 tháng tù đến 30 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Vật chứng, dân sự: Không. Bị cáo phải chịu tiền án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra và truy tố, Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn L thành khẩn khai nhận hành vi của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, được chứng minh bằng lời khai người làm chứng và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Nguyễn Văn L là đối tượng đang trong thời hạn cai nghiện ma túy, L bắt đầu điều trị tại Trung tâm y tế xã Ô D từ ngày 07/08/2017. Ngày điều trị cuối cùng 05/01/2026. Bệnh nhân điều trị tại Cơ sở điều trị Methadone Đan Ph – Trung tâm y tế huyện Đan Ph (tên hiện tại: Cơ sở tư vấn và điều trị nghiện chất – Trạm y tế xã Ô D) từ ngày 07/08/2017 đến nay. Trong quá trình điều trị L tuân thủ điều trị lần xét nghiệm gần nhất vào ngày 09/12/2025 cho kết quả âm tính. Đến ngày 06/01/2026, L đã đến cơ sở điều trị Methadone ở Cụm 11, xã Ô D, thành phố Hà Nội để uống thuốc điều trị cai nghiện. Khi đến nơi, L bị Công an xã Ô D yêu cầu xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu của L, kết quả dương tính với ma túy.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn L đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý” theo qui định tại điểm a, khoản 1, Điều 256a của Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Hà Nội truy tố bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn trong bản cáo trạng là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy, mà còn gây mất trật tự trị an xã hội. Bởi lẽ, ma túy có tác hại rất lớn đối với sức khỏe của người sử dụng, nó còn là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc phát sinh tội phạm hình sự và tệ nạn xã hội. Bị cáo có nhân thân xấu và không quyết tâm cai nghiện ma túy để trở thành công dân tốt. Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Hội đồng xét xử cũng xem xét: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt, tạo điều kiện để bị cáo sửa chữa sai phạm.

Đối với người đàn ông đeo khẩu trang kín mặt đã bán ma túy cho L nhưng không có lai lịch cụ thể nên cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.

Về vật chứng vụ án, dân sự: Không

Án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Văn L có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a, khoản 1, Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn L 28 (Hai mươi tám) tháng tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/01/2026.

2. Vật chứng, dân sự: Không

3. Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ