vanban.org

Bản án 98/2026/HNGĐ-ST — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T về việc tranh chấp xác định không phải cha cho con và xác định cha cho con đối với ông Nguyễn Văn T1.

Xác định ông Nguyễn Văn T1 không phải là cha của cháu Nguyễn Thiên Â, sinh ngày 06/11/2021. Xác định ông Lò Văn X, sinh ngày 19/4/1980; CCCD số xxxxxxxxxxxx; địa chỉ: Bản S, xã M, tỉnh Sơn La là cha của cháu Nguyễn Thiên Â, sinh ngày 06/11/2021 theo giấy chứng sinh số xx, quyển số 44 ngày 26/3/2026 … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp xác định cha cho con giữa Nguyễn Thị T - Nguyễn Văn T2"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T về việc tranh chấp xác định không phải cha cho con và xác định cha cho con đối với ông Nguyễn Văn T1.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 17 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
———————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2026/HNGĐ-ST
Ngày 30-7-2026
V/v tranh chấp về xác định không phải
cha cho con và xác định cha cho con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Thêm.

Các Hội thẩm nhân dân:1. Bà Vũ Thị Hạnh;

2. Ông Tống Văn Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phan Tấn Thành - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 7 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 290/2026/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2026 về việc Tranh chấp về xác định không phải cha cho con và xác định cha cho con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 7 năm 2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh ngày 06/7/1983; địa chỉ: tổ B, ấp T, xã B, Thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú: Ki ốt 12, nhà T, tổ F, khu phố U, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T1, sinh ngày 10/9/1983; địa chỉ: tổ B, ấp T, xã B, Thành phố Hồ Chí Minh. Xin vắng mặt;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lò Văn X, sinh ngày 19/4/1980; địa chỉ: Bản S, xã M, tỉnh Sơn La. Xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 08 tháng 5 năm 2026 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:

Bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn T1 là vợ chồng nhưng đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số xx/2022/QĐST-HNGĐ ngày 09/02/2022 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương (nay là Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh). Trong thời kỳ hôn nhân bà T và ông T1 có hai người con chung tên Nguyễn Anh T2, sinh ngày 04/10/2009 và Nguyễn Ngọc T3, sinh ngày 15/10/2011. Trong thời gian thực hiện thủ tục ly hôn bà Nguyễn Thị T và ông Lò Văn X có một người con chung tên dự kiến là Nguyễn Thiên Â, sinh ngày 06/11/2021 theo giấy chứng sinh số xx, quyển số 44 ngày 26/3/2026 của Bệnh viện P (Cấp lại) cho đến nay vẫn chưa làm khai sinh.

Theo kết quả xét nghiệm ADN số: 10661H/2026 ngày 29/4/2026 của Công ty TNHH C kết luận ông Lò Văn X có quan hệ huyết thống cha - con với Nguyễn Thiên Â, độ tin cậy trên 99,999999%.

Bà Nguyễn Thị T yêu cầu Tòa án xác định:

Ông Nguyễn Văn T1 không phải cha của cháu Nguyễn Thiên Â.

Ông Lò Văn X là cha của cháu Nguyễn Thiên Â.

- Bị đơn ông Nguyễn Văn T1 trình bày: Ông T1 và bà T có 02 người con chung tên là Nguyễn Anh T2, sinh ngày 04/10/2009 và Nguyễn Ngọc T3, sinh ngày 15/10/2011.

Cháu Nguyễn Thiên Â, sinh ngày 06/11/2021 được sinh trong thời khi hôn nhân giữa ông T1 với bà T. Nhưng theo kết luận giám định ADN, cháu  là con của ông Lò Văn X nên ông T1 đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà T.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lò Văn X trình bày: Ông Lò Văn X và bà Nguyễn Thị T có một người con chung tên Nguyễn Thiên Â. Theo kết quả giám định ADN xác định ông Lò Văn X và cháu Nguyễn Thiện Â1 có quan hệ huyết thống cha con.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:

Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa sơ thẩm Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Các đương sự có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên Toà án căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định pháp luật.

Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, căn cứ lời thừa nhận của các đương sự phù hợp với bản kết luận giám định ADN có cơ sở xác định ông Lò Văn X là cha của cháu Nguyễn Thiên  nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị T có đơn khởi kiện tranh chấp xác định ông Nguyễn Văn T1 không phải là cha của cháu Nguyễn Thiên  và xác định ông Lò Văn X là cha của cháu Nguyễn Thiên  nên đây là vụ án “Tranh chấp về xác định không phải cha cho con và xác định cha cho con” theo quy định tại khoản 4 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Nguyễn Văn T1 có địa chỉ tại xã B, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh.

Về sự vắng mặt của các đương sự: Xét bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Vì vậy, căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định của pháp luật.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều thống nhất xác định cháu Nguyễn Thiên Â, sinh ngày 06/11/2021 là con của bà Nguyễn Thị T với ông Lò Văn X. Lời thừa nhận của các đương sự phù hợp với chứng cứ do nguyên đơn cung cấp là Kết quả xét nghiệm ADN số 10661H/2026 ngày 29 tháng 4 năm 2026 của Công ty TNHH C kết luận “Lo Văn Xoa có quan hệ huyết thống cha - con với Nguyễn Thiên Â, độ tin cậy >99.999999%”. Từ phân tích và nhận định nêu trên có cơ sở xác định ông Lò Văn X là cha của cháu Nguyễn Thiên Â, nên có cơ sở chấp yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Xét ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về quan điểm giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật, nên có cơ sở chấp nhận.

Án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị T thuộc trường hợp được miễn án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 4 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 101, 102 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T về việc tranh chấp xác định không phải cha cho con và xác định cha cho con đối với ông Nguyễn Văn T1.

Xác định ông Nguyễn Văn T1 không phải là cha của cháu Nguyễn Thiên Â, sinh ngày 06/11/2021.

Xác định ông Lò Văn X, sinh ngày 19/4/1980; CCCD số xxxxxxxxxxxx; địa chỉ: Bản S, xã M, tỉnh Sơn La là cha của cháu Nguyễn Thiên Â, sinh ngày 06/11/2021 theo giấy chứng sinh số xx, quyển số 44 ngày 26/3/2026 của Bệnh viện P (Cấp lại).

Đương sự có quyền và nghĩa vụ liên hệ Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện thủ tục hành chính hộ tịch theo quy định pháp luật.

2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị T thuộc trường hợp được miễn án phí.

3. Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Nếu vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ