- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Trương Thị Thanh P xin ly hôn ông Nguyễn Quốc P"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Thanh P.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 98/2025/HNGĐ-ST Ngày: 28-4-2025 V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Loan Trần Hải Yến.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Công Danh
2. Bà Thiều Thị Phi Loan
- Thư ký phiên tòa: Ông Tôn Hoài Anh Tuyển – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Thông – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 2512/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 146/2025/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2025 giữa:
1. Nguyên đơn: Bà Trương Thị Thanh P, sinh năm 1985
Địa chỉ: 4, tổ E, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Quốc P1, sinh năm 1986
Địa chỉ: tổ G, khu phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
(Bà P, ông P1 vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện đề ngày 14/10/2024 và bản tự khai nguyên đơn bà Trương Thị Thanh P trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Quốc P1 kết hôn năm 2013, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Trong quá trình chung sống vợ chồng không có tiếng nói chung và thường hay xảy ra mâu thuẫn, chửi bới, thậm chí tác động vật lý với bà rất nhiều lần. Bắt đầu từ năm 2021 đến nay vợ chồng sống ly thân, nhận thấy hôn nhân không còn hạnh phúc, không còn tiếng nói chung nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Quốc P1.
Về con chung: Có 02 con chung là cháu Nguyễn Hoàng Đan U, sinh ngày 03/3/2014 và cháu Nguyễn Gia B, sinh ngày 29/11/2018, khi ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Tạm thời bà không yêu cầu ông P1 cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý; giấy triệu tập; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho ông Nguyễn Quốc P1 nhưng ông Nguyễn Quốc P1 vắng mặt không có lý do nên không có lời khai.
Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng quy định. Bị đơn đã được Tòa triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà P về việc ly hôn với ông P1. Giao cháu U và cháu B cho bà P trực tiếp nuôi dưỡng, tạm thời ông P1 không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Bà P trình bày không có, không yêu cầu giải quyết. Về nợ chung: Bà P trình bày không có. Về án phí: bà P phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bà Trương Thị Thanh P có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập; Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa theo quy định của pháp luật cho ông Nguyễn Quốc P1 nhưng ông Nguyễn Quốc P1 vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Thị Thanh P và ông Nguyễn Quốc P1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đã được Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 46/2013 ngày 08/4/2013 nên căn cứ Điều 9, Điều 11, Điều 12 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 xác định là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu xin ly hôn của bà P, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo bà P trình bày trong quá trình chung sống vợ chồng không có tiếng nói chung và thường hay xảy ra mâu thuẫn, chửi bới, thậm chí tác động vật lý với bà rất nhiều lần. Bắt đầu từ năm 2021 đến nay vợ chồng sống ly thân, nhận thấy hôn nhân không còn hạnh phúc, không còn tiếng nói chung nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Quốc P1. Qua xác minh tại địa phương cho biết giữa vợ chồng bà P, ông P1 có phát sinh mâu thuẫn hay không thì địa phương không biết do các đương sự không báo với địa phương và không có đơn đề nghị địa phương hòa giải mâu thuẫn vợ chồng. Tuy nhiên, Tòa án cũng đã tiến hành triệu tập ông Nguyễn Quốc P1 đến Tòa để hòa giải đoàn tụ nhưng ông Nguyễn Quốc P1 không đến, cho thấy ông Nguyễn Quốc P1 không muốn níu kéo cuộc hôn nhân này.
Xét thấy, vợ chồng bà P, ông P1 đã ly thân từ năm 2021 cho đến nay, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, không có khả năng hàn gắn đoàn tụ nên việc bà P xin ly hôn với ông P1 là có cơ sở chấp nhận. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Thanh P, bà Trương Thị Thanh P được ly hôn với ông Nguyễn Quốc P1.
Về con chung: Bà P và ông P1 có 02 con chung là cháu Nguyễn Hoàng Đan U, sinh ngày 03/3/2014 và cháu Nguyễn Gia B, sinh ngày 29/11/2018. Khi ly hôn bà Trương Thị Thanh P yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông Nguyễn Quốc P1 cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy việc nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là trách nhiệm của cha mẹ. Khi ly hôn bà Trương Thị Thanh P xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông Nguyễn Quốc P1 cấp dưỡng nuôi con. Ông Nguyễn Quốc P1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa làm việc nên không có ý kiến gì về con chung, xét thấy cháu Nguyễn Hoàng Đan U có nguyện vọng được ở với mẹ và các con chung hiện đang do bà P trực tiếp nuôi dưỡng do đó để đảm bảo cuộc sống ổn định cho con chung nên giao cháu U và cháu B cho bà Trương Thị Thanh P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng để tạo điều kiện ổn định phát triển về mọi mặt cho các cháu. Tạm thời ông Nguyễn Quốc P1 không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Bà Trương Thị Thanh P trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do bị đơn vắng mặt chưa có lời khai về tài sản chung, nên không đặt ra xem xét mà tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.
Về nợ chung: Bà Trương Thị Thanh P trình bày không có. Do bị đơn vắng mặt chưa có lời khai về nợ chung, nên không đặt ra xem xét mà tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.
Về án phí: Bà P phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 203, Điều 220, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 9, Điều 11, Điều 12 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Thanh P.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Thị Thanh P được ly hôn với ông Nguyễn Quốc P1.
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hoàng Đan U, sinh ngày 03/3/2014 và cháu Nguyễn Gia B, sinh ngày 29/11/2018 cho bà Trương Thị Thanh P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm thời ông Nguyễn Quốc P1 không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung.
Không ai được cản trở quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung của ông Nguyễn Quốc P1.
Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các đương sự có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không đặt ra xem xét mà tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.
Về nợ chung: Không đặt ra xem xét mà tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.
Về án phí: Bà Trương Thị Thanh P phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0004329 ngày 21/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa. Bà Trương Thị Thanh P đã nộp đủ án phí.
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - VKS nhân dân thành phố Biên Hòa; - Chi cục THADS thành phố Biên Hòa; - Các đương sự; - Ủy ban nhân dân phường Tân Mai, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Loan Trần Hải Yến |