vanban.org

Bản án 98/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lâm Mộng T. Bà Lâm Mộng T được ly hôn với ông Hồ Văn H.

Về nuôi con chung: Giao cho bà Lâm Mộng T nuôi dưỡng và chăm sóc 01 người con tên Hồ Phúc Th, sinh ngày 01/9/2019 (nam). Hồ Văn H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Thuỳ - Hoài"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lâm Mộng T. Bà Lâm Mộng T được ly hôn với ông Hồ Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÁI NƯỚC
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2025/HNGĐ-ST
Ngày 08-5-2025
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tạo

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Diện

Ông Nguyễn Quốc Trung

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Văn Mil - Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

Ngày 08 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 100/2025/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 81/2025/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lâm Mộng T, sinh năm 1984 (xin vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Hồ Văn H, sinh năm 1979 (vắng mặt).

Cùng cư trú tại: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 16 tháng 12 năm 2024 và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ thể hiện, nguyên đơn bà Lâm Mộng T trình bày yêu cầu:

- Về hôn nhân: Được sự thống nhất của hai gia đình nên tôi và ông Hồ Văn H kết hôn với nhau vào năm 1999, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán địa phương nhưng đến năm 2019 mới có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Hưng, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Khi mới kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc nhưng đến năm 2021 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do không hợp nhau, bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cự cải với nhau nên dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Xét thấy, hôn nhân không đạt được hạnh phúc, không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng cho nên tôi yêu cầu được ly hôn với chồng tôi là ông Hồ Văn H.

- Về con chung: Có 03 người con là Hồ Kiều N, sinh ngày 02/11/2000 (nữ), Hồ Nhựt D, sinh ngày 11/12/2005 (nam) và Hồ Phúc Th, sinh ngày 01/9/2019 (nam). Khi ly hôn con tên Hồ Kiều N đã có gia đình sống riêng và Hồ Nhựt D thì đã trưởng thành nên không yêu cầu Toà án giải quyết, riêng người con tên Hồ Phúc Th tôi yêu cầu được nuôi dưỡng và chăm sóc con.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Lâm Mộng T không yêu cầu ông Hồ Văn H cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với bị đơn ông Hồ Văn H: Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, đã hết thời hạn theo quy định pháp luật mà ông H không có văn bản trình bày ý kiến của mình về yêu cầu xin ly hôn của bà T. Đồng thời, bà Lâm Mộng T có đơn yêu cầu không hoà giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải, quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt nên không có ý kiến gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn bà Lâm Mộng T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, yêu cầu của đương sự phù hợp với khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được chấp nhận.

Bị đơn ông Hồ Văn H Tòa án đã tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Giấy triệu tập xét xử hợp lệ lần 2 đối với ông H, nhưng ông H vẫn vắng mặt không lý do; Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với ông Hồ Văn H.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Bà Lâm Mộng T và ông Hồ Văn H kết hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Hưng, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau vào năm 2019 theo giấy chứng nhận kết hôn số 163 ngày 31 tháng 12 năm 2019. Vì vậy, quan hệ hôn nhân của bà Lâm Mộng T và ông Hồ Văn H được pháp luật công nhận là vợ chồng kể từ thời điểm đăng ký kết hôn.

Xét thấy, bà Lâm Mộng T xin ly hôn với ông Hồ Văn H là vì trong quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do không hợp nhau, bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cự cải với nhau nên dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Về phía ông H đã được Tòa án thông báo hòa giải hợp lệ, nhưng ông H vẫn vắng mặt và cũng không có trình bày ý kiến gì của mình về yêu cầu xin ly hôn của bà T, từ đó cho thấy ông H cũng không có thiện chí mong muốn hàn gắn quan hệ hôn nhân giữa bà T với ông H. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà T với ông H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể duy trì, mục đích hôn nhân không đạt được nếu duy trì hôn nhân cũng không đem lại hạnh phúc nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lâm Mộng T. Bà Lâm Mộng T được ly hôn với ông Hồ Văn H theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con chung: Bà Lâm Mộng T xác định có 03 người con là Hồ Kiều N, sinh ngày 02/11/2000 (nữ), Hồ Nhựt D, sinh ngày 11/12/2005 (nam) và Hồ Phúc Th, sinh ngày 01/9/2019 (nam). Khi ly hôn con tên Hồ Kiều N đã có gia đình sống riêng và Hồ Nhựt D thì đã trưởng thành nên không yêu cầu Toà án giải quyết, do đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét. Riêng con tên Hồ Phúc Th thì bà T yêu cầu được nuôi dưỡng, chăm sóc con. Xét thấy, cháu Hồ Phúc Th hiện sống chung với bà T, cuộc sống của cháu đã được ổn định và ông H cũng không có phản đối việc yêu cầu nuôi con của bà T. Do đó, giao 01 người con tên Hồ Phúc Th, sinh ngày 01/9/2019 (nam) cho bà Lâm Mộng T được tiếp tục nuôi dưỡng và chăm sóc con.

Ông Hồ Văn H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở. Tuy nhiên, lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Lâm Mộng T không yêu cầu ông Hồ Văn H cấp dưỡng nuôi con nên ông Hồ Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản chung và nợ chung: Căn cứ vào Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự “Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó”, do đương sự không đặt ra yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không giá ngạch 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), người khởi kiện yêu cầu ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án có chấp nhận hay không chấp chận cho ly hôn đều phải chịu án phí nên bà Lâm Mộng T phải chịu nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã dự nộp.

Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lâm Mộng T. Bà Lâm Mộng T được ly hôn với ông Hồ Văn H.

2. Về nuôi con chung: Giao cho bà Lâm Mộng T nuôi dưỡng và chăm sóc 01 người con tên Hồ Phúc Th, sinh ngày 01/9/2019 (nam).

Hồ Văn H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Hồ Văn H không cấp dưỡng nuôi con.

3. Về chia tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

4. Về án phí: Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), bà Lâm Mộng T phải chịu nộp án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), bà Lâm Mộng T có nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0019217 ngày 24 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau được chuyển thu, không phải nộp tiếp.

“Trường hợp quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự”.

5. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ