vanban.org

Bản án 98/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương Tuyên án 30/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị P phạm các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu C phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị P 02 (Hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo P phải chấp hành hình phạ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Thị P và Nguyễn Hữu C phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" - phạm tội tổ chức sử dụng tr…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị P phạm các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ KINH MÔN
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2024/HS-ST
Ngày: 30/12/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KINH MÔN, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quyết.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Ngọc và bà Nguyễn Thị Lựu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Tăng Bá Thắng- Kiểm sát viên.

Ngày 30/12/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 90/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 99/2024/QĐXXST - HS ngày 17 tháng 12 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Thị P, sinh năm 1995 tại: Thị xã K, tỉnh Hải Dương; nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã T, thị xã K, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K và bà Nguyễn Thị P1; có chồng nhưng đã ly hôn; có 03 con: Con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/9/2024 đến ngày 03/10/2024 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương đến nay - Có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Hữu C, sinh năm 1988 tại: Thị xã K, tỉnh Hải Dương; nơi ĐKHKTT: Thôn Q, xã T, thị xã K, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu K và bà Bùi Thị S; tiền sự: Không; tiền án: Tại bản án hình sự số 88/2021/HS-ST ngày 20/9/2021, Tòa án nhân dân thị xã Kinh Môn xử phạt C 11 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/10/2022, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 08/3/2022; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/9/2024 đến ngày 03/10/2024 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương đến nay - Có mặt tại phiên tòa.

* Người chứng kiến: Ông Đỗ Văn C và ông Nguyễn Tiến D- Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 23/9/2024, Nguyễn Thị P đi nhờ xe của một người không quen biết đến chỗ ở của Nguyễn Hữu C ở bãi ngoài đê sông thuộc thôn Q, xã T, thị xã K, tỉnh Hải Dương để chơi. Khi gần đến nơi thì P nảy sinh ý định tìm mua ma túy tổng hợp (gọi là ma túy “đá”) để sử dụng. Khi đang đi trên đường đê thuộc thôn Q, P gặp 01 người đàn ông không quen biết hỏi và mua được 01 túi ma túy có đặc điểm: là nilon kích thước khoảng (9x6)cm, miệng mép túi có vạch màu đỏ, trong chứa chất tinh thể màu trắng với giá 1.000.000 đồng. Sau đó, P đi bộ tới chỗ ở của C và ngủ lại qua đêm. Đến khoảng 06 giờ ngày 24/9/2024, P và C dậy. Lúc này P lấy từ trong túi quần đang mặc ra 01 túi ma túy mua lúc trước bảo C cùng sử dụng, C đồng ý và lấy ở gầm ghế cạnh đệm kê trên nền nhà bộ dụng cụ sử dụng ma túy (thường gọi là Cóong) và 01 bật lửa gas (dạng bật lửa khò) của C đưa cho P. P dùng 01 đoạn ống nhựa xúc ma túy "đá" đổ vào Cóong. Phần ma túy còn lại trong túi nilon P dùng dây cao su buộc lại để trong túi quần phía trước bên trái đang mặc mục đích để sử dụng sau cho bản thân. Sau đó, P và C thay nhau sử dụng ma túy. Sau khi sử dụng hết số ma túy trong Cóong thì C đi làm còn P đi ngủ tiếp. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày thì Tổ công tác thuộc Công an xã T đến kiểm tra, phát hiện. Thu giữ tại túi quần phía trước bên trái P đang mặc 01 túi nilon trong chứa chất dạng tinh thể màu trắng (được niêm phong ký hiệu M), thu tại nền nhà 01 bộ dụng cụ sử dụng chất ma tuý, 01 chiếc bật lửa (được niêm phong ký hiệu T). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng. Đến 14 giờ 15 phút cùng ngày, C đến Công an xã T đầu thú.

Ngày 25/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã Kinh Môn tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Hữu C, Nguyễn Thị P kết quả không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.

Tại kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể do Trạm Y tế xã T thực hiện ngày 24/9/2024 xác định Nguyễn Thị P và Nguyễn Hữu C dương tính với chất ma túy trong cơ thể loại Met (Methamphetamine) và MDMA (Ma túy tổng hợp).

Tại Kết luận giám định số 408/KL-KTHS ngày 26/9/2024, phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương kết luận:

- Mẫu chất tinh thể màu trắng trong túi nilon thu giữ của P được niêm phong ký hiệu M gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng là 1,122 gam.

- Quá trình giám định có tìm thấy chất ma túy loại Methamphetamine trong mẫu chất màu trắng bám dính bên trong ống thủy tinh, trong ống hút nhựa và chai nhựa, được niêm phong ký hiệu T gửi đến giám định. Lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng.

Tại Cáo trạng số 86/CT-VKS ngày 28 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương đã truy tố Nguyễn Thị P về các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự; truy tố Nguyễn Hữu C về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo Nguyễn Thị P và Nguyễn Hữu C thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kinh Môn đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kinh Môn thực hành quyền công tố, trình bày luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị P phạm các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu C phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 55, Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị P từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 09 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 24/9/2024.

Căn cứ khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu C từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 24/9/2024.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị về việc xử lý vật chứng và án phí của vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra Công an thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương, Kiểm sát viên thu thập, những người tham gia tố tụng cung cấp; hành vi, quyết định tố tụng do Điều tra viên, Kiểm sát viên thực hiện trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa không có khiếu nại hoặc tố cáo. Do đó xác định những chứng cứ, tài liệu đã thu thập; các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của Nguyễn Thị P và Nguyễn Hữu C tại phiên toà phù hợp với lời khai, bản cung của các bị cáo trong quá trình điều tra vụ án, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng của vụ án đã thu giữ được, lời khai của người chứng kiến, bản Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 06 giờ ngày 24/9/2024 tại chỗ ở của Nguyễn Hữu C ở bãi ngoài đê sông K thuộc thôn Q, xã T, thị xã K, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Thị P có hành vi cung cấp ma túy tổng hợp loại Methamphetamine còn Nguyễn Hữu C có hành vi cung cấp công cụ và địa điểm để P và C cùng nhau sử dụng ma túy. Ngoài ra P còn có hành vi tàng trữ 1,122 gam ma tuý loại Methamphetamine mục đích để sử dụng cho bản thân. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày thì Tổ công tác thuộc Công an xã T phát hiện bắt quả tang hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của P, thu giữ vật chứng. Đến khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày, C ra đầu thú. Hành vi nêu trên của Nguyễn Thị P đã phạm vào các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 và khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Hành vi của Nguyễn Hữu C đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự, bởi lẽ:

Hành vi của Nguyễn Thị P là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về việc cất giữ và sử dụng chất ma tuý; hành vi Nguyễn Hữu C đã xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về việc sử dụng chất ma tuý. Đây là những khách thể mà Bộ luật Hình sự đã quy định và bảo vệ. Với mục đích sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo P đã bất chấp pháp luật của Nhà nước, lén lút mua bán ma túy đem về cùng với C sử dụng trái phép chất ma túy. Ngoài ra, bị cáo còn tàng trữ 1,122 gam ma tuý loại Methamphetamine mục đích để sử dụng cho bản thân. Đối với C, bị cáo sử dụng chỗ ở của bản thân và cung cấp dụng cụ sử dụng ma túy cùng với bị cáo P sử dụng trái phép chất ma túy tại chỗ ở của mình. Hành vi của các bị cáo đã làm mất trật tự trị an trên địa bàn, gây dư luận xấu trong nhân dân. Nhà nước ta đã có chế độ quản lý ngặt nghèo đối với ma tuý, nghiêm cấm mọi hành vi sản xuất, mua bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng… trái phép chất ma túy. Nhà nước đã tuyên truyền rộng rãi dưới nhiều hình thức về hiểm hoạ của ma tuý và pháp luật của Nhà nước đối với ma tuý. Bản thân các bị cáo là người nghiện ma túy nên đã hiểu rõ tác hại của ma tuý đối với sức khoẻ, tính mạng của con người. Nhưng do ham chơi, không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân, các bị cáo đã sa vào tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật của Nhà nước. Các bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện. Do vậy Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kinh Môn đã truy tố Nguyễn Thị P về các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 và khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự; truy tố Nguyễn Hữu C về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Với hành vi của mình, các bị cáo phải chịu một hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi mà các bị cáo đã gây ra, để hình phạt đó không chỉ là sự trừng trị của pháp luật đối với người phạm tội mà còn là bài học để răn đe, giáo dục chung trong cộng đồng.

Xem xét về vị trí, vai trò, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, thấy rằng:

Trong vụ án tổ chức trái phép chất ma túy có hai người tham gia, tuy chỉ là đồng phạm giản đơn, song có người chủ mưu, người thực hành tích cực. Trong đó, Nguyễn Thị P là người khởi xướng và cũng là người thực hiện tội phạm tích cực. Bị cáo là người cung cấp ma túy, ống hút rủ bị cáo C cùng sử dụng ma túy. Bị cáo C là người thực hành tích cực, cung cấp công cụ, phương tiện là Coóng, chai nhựa, bật lửa và dùng chỗ ở của mình để bản thân và bị cáo P cùng sử dụng ma túy.

Trong vụ án tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo P phạm tội độc lập.

Sau khi phạm tội các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do vậy các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo C được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ là “Đầu thú” quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo phạm tội khi đã bị kết án, chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo là người có nhân thân xấu, bản thân đã bị kết án và được giáo dục, cải tạo nhưng không lấy đó làm bài học để cải sửa nay lại phạm tội.

Bị cáo P là người có nhân tốt, chưa có tiền án, tiền sự gì.

Xét cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe và giáo dục các bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Xét tính chất, mức độ hành vi, hoàn cảnh kinh tế, gia đình của các bị cáo thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ của bị cáo P 1,122 gam ma tuý loại Methamphetamine. Sau khi giám định, cơ quan giám định hoàn lại 1,005g ma túy loại Methamphetamine, đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu cho tiêu hủy. Ngoài ra, đối với 01 vỏ túi nilon màu đỏ, 01 dây cao su màu tím, 01 ống thủy tinh (thường gọi là Coóng), 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng dài 28cm, 01 đoạn ống nhựa kích thước 9,5cm, 01 chai nhựa màu trắng cổ chai có vòng tròn màa đỏ bằng nhựa; 01 bật lửa gas (dạng bật lửa khò) và 01 vỏ phong bì ký hiệu M niêm phong mẫu vật gửi giám định xét không có giá trị cần tịch thu cho tiêu hủy là phù hợp với quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trong vụ án này, P khai mua ma túy của một người đàn ông. Quá trình điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ của người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Nguyễn Thị P, Nguyễn Hữu C đã bị Công an thị xã Kinh Môn xử phạt vi phạm hành chính.

Về án phí: Các bị cáo P, C bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị P phạm các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu C phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 55, Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị P 02 (Hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo P phải chấp hành hình phạt chung là 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 24/9/2024.

Căn cứ khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu C 02 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 24/9/2024.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu cho tiêu hủy 1,005g ma túy loại Methamphetamine, 01 vỏ túi nilon màu đỏ, 01 dây cao su màu tím và 01 vỏ phong bì ký hiệu M niêm phong mẫu vật gửi giám định được niêm phong trong phong bì số 408/KL-KTHS ký hiệu T1.

Tịch thu cho tiêu hủy 01 ống thủy tinh (thường gọi là Coóng), 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng dài 28cm, 01 đoạn ống nhựa kích thước 9,5cm, 01 chai nhựa màu trắng cổ chai có vòng tròn màu đỏ bằng nhựa; 01 bật lửa gas (dạng bật lửa khò) được niêm phong trong phong bì số 408/KL-KTHS ký hiệu T2.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 27/12/2024 của Công an thị xã Kinh Môn và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Kinh Môn).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc các bị cáo Nguyễn Thị P và Nguyễn Hữu C mỗi người phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Báo các bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ