- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S- TP.H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ----------------- Bản án số: 98/2023/HS-ST Ngày 14/6/2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S – TP.H
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị H
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn V
Bà Đỗ Thị H
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải H – Thư ký Toà án nhân dân huyện S.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Mai X – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện S – TP H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 92/2023/TLST - HSST ngày 25/5/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2023/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn Hg, Sinh năm 1993; ĐKHKTTvà nơi ở: Thôn GP, xã HT, huyện HH, tỉnh BG; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Văn M, sinh năm 1968; Con bà: Quách Thị L, sinh năm 1968; Vợ: Ngô Thị D, sinh năm 1994, có 02 con (lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2019). Tiền án, tiền sự: Theo danh chỉ bản số 000000218 ngày 25/3/2023 do Công an huyện S - TP. H lập thì bị cáo không có tiền án, tiền sự.
Nhân thân: Ngày 20/3/2020, Công an xã MT, huyện HH, tỉnh BG xử phạt hành chính về hành vi đánh nhau bằng hình thức phạt tiền, đã nộp phạt ngày 27/4/2020.
Bị cáo hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Nguyễn Văn Hn, sinh năm 1970; HKTT: Thôn BT, xã HD, huyện CM, TP H; Chỗ ở hiện nay: Thôn XB, xã QT, huyện S, TP H. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn Hg và ông Nguyễn Văn Hn cùng làm công nhân tại Công ty TNHH Yamaha (thuộc khu công nghiệp NB, huyện S, TP H). Quá trình làm tại công ty, thỉnh thoảng ông Hn có nhờ Hg thực hiện thao tác chuyển tiền trên ứng dụng ngân hàng Agribank Emobile banking trên điện thoại của ông Hn nên Hg biết mật khẩu đăng nhập vào tài khoản ngân hàng của ông Hn. Vào khoảng tháng 6/2018, do nợ nần nhiều, không có tiền trả nợ nên Hg nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền trong tài khoản của ông Hn. Trưa 15/6/2018, khi Hg và ông Hn đang ở tại công ty, Hg nói dối hỏi mượn điện thoại của ông Hn để liên lạc, ông Hn đồng ý và đưa điện thoại cho Hg. Sau đó, lợi dụng lúc ông Hn không để ý, Hg đăng nhập vào ứng dụng ngân hàng Agribank Emobile banking, số tài khoản 3160205045321 trên điện thoại của ông Hn rồi thực hiện chuyển tiền 05 lần vào tài khoản ngân hàng Techcombank số 19030667372019 của anh Ngô Văn C (sinh năm 1996, trú tại thôn CT, xã MT, huyện HH, tỉnh BG), tổng số tiền chuyển là 12.800.000 đồng. Sau đó, Hg nhờ anh C chuyển lại toàn bộ số tiền trên sang tài khoản ngân hàng Agribank số 3160205310402 của Hg nhưng không nói cho anh C biết nguồn gốc số tiền trên do Hg đã trộm cắp của ông Hn. Sau đó, Hg trả lại điện thoại cho ông Hn. Đến chiều cùng ngày, sau khi hết giờ làm, ông Hn kiểm tra điện thoại thì thấy sim bị mất sóng, không sử dụng được nên đã đến cửa hàng Viettel để kiểm tra, phát hiện sim bị hỏng nên đã đăng ký làm lại. Sau khi làm lại, ông thấy tin nhắn thông báo tài khoản ngân hàng của mình đã bị trừ số tiền 12.800.000 đồng. Ông Hn hỏi Hg nhưng Hg không thừa nhận đã lấy tiền từ tài khoản của ông Hn. Do vậy, ngày 16/6/2018 ông Hn đã đến Công an huyện S trình báo sự việc.
Bản cáo trạng số 90/CT-VKS ngày 23/5/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện S truy tố bị cáo Nguyễn Văn Hg về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình theo đúng nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người bị hại là ông Nguyễn Văn Hn trình bày: Anh và Nguyễn Văn Hg làm công nhân cùng nhau tại Công ty YAMAHA thuộc khu công nghiệp NB. Ngày 14/6/2018 để có thể bắn tiền anh đã nhờ Nguyễn Văn Hg tải ứng dụng Agribank E – Mobile và cài đặt tài khoản cũng như mật khẩu giúp anh. Sau đó đến ngày 15/6/2018 anh lại cho Hg mượn điện thoại từ khoảng 12h30 và anh đi làm, anh không biết Hg làm những gì với điện thoại của anh. Đến 16 giờ ngày 16/6/2018 anh liên hệ với Ngân hàng gribank thì được biết tài khoản của anh bị mất số tiền 12.800.000đ (Mười hai triệu tám trăm nghìn đồng) vì đã chuyển khoản đến cho một tài khoản có tên Ngô Văn C vào đúng thời điểm 12 giờ 31 phút ngày 15/6/2018 là thời điểm anh cho Hg mượn điện thoại. Nay anh đã nhận lại số tiền 12.800.000đ, anh không yêu cầu Hg bồi thường thêm gì về dân sự và anh có đơn xin rút đơn tố cáo và miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S, thành phố H giữ quyền công tố tại phiên tòa trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt Nguyễn Văn Hg mức án từ 9 đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 đến 24 tháng.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Ông Hn đã nhận tiền bồi thường, không yêu câu gì thêm nên không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện S; Điều tra viên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo không có khiếu nại gì. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đều là hợp pháp.
Về nội dung vụ án: Trưa 15/6/2018, tại Công ty TNHH Yamaha thuộc khu công nghiệp NB, huyện S, TP H; Nguyễn Văn Hg đã có hành vi lén lút, tự ý chuyển khoản số tiền 12.800.000 đồng thông qua ứng dụng internet banking trên điện thoại từ tài khoản ngân hàng Agribank số 3160205045321 của ông Nguyễn Văn Hn sang tài khoản ngân hàng Techcombank số 19030667372019 của anh Ngô Văn H. Sau đó, Hg đã nhờ anh H chuyển lại toàn bộ số tiền trên sang tài khoản ngân hàng Agribank số 3160205310402 của Hg để chiếm đoạt số tiền 12.800.000 đồng của ông Hn.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội ở địa phương. Hành vi trên của Nguyễn Văn Hg đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện S truy tố bị cáo là có căn cứ.
Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã bồi thường, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra; bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị các, đó là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét thấy bị cáo có nơi cư trú ổn định rõ ràng. Vì vậy cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
. Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với người phạm tội. Xét bị cáo hiện làm tự do, thu nhập không ổn định nên không áp dụndụng
. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Anh Nguyễn Văn Hn đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm về dân sự nên không đặt ra xem xét giải quyết.
. Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Về hình phạt:
Căn cứ Khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt Nguyễn Văn Hg 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử tháng 16 kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Nguyễn Văn Hg cho UBND xã HT, huyện HH, tỉnh BG giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
[2] Về án phí, quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Đương sự. - VKSND huyện S; - Chi cục THADS huyện S; - Công an huyện S; - TAND thành phố H; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị H |