- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Cao Tr và đồng phạm - phạm tội cưỡng đoạt tài sản (điều 170 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1. Áp dụng khoản 1 Điều 170; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Ngô Cao Tr 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 01-3-2023 và được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 28-12-2022 đến ngày 06-01-2023.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 170 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐĂK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 98/2023/HS-PT Ngày 12-12-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐĂK NÔNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Chương
Các Thẩm phán tham gia: Ông Lương Đức Dương và ông Lê Quốc Hương
- Thư ký phiên toà: Bà Trương Thị Diễm My là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Nông tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nguyên – Kiểm sát viên.
Ngày 12-12-2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Nông mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 129/2023/TLPT-HS ngày 01-11-2023 đối với các bị cáo Ngô Cao Tr và Ngô Hoàng T, do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 62/2023/HS-ST ngày 28-92023 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Song, tỉnh Đăk Nông, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 124/2023/QĐXXPT-HS ngày 09-11-2023 của Toà án nhân dân tỉnh Đăk Nông, đối với các bị cáo:
1. Ngô Cao Tr, sinh năm 1992 tại tỉnh Hà Nam; nơi đăng ký thường trú: Thôn T, xã G, huyện M, tỉnh Đăk Nông; chỗ ở hiện nay: Thôn A, xã X, huyện S, tỉnh Đăk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Quyết Ch (sinh năm 1945) và bà Trần Thị M (đã chết); có vợ là Trần Hoàng Y và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 28-12-2022 đến ngày 06-01-2023; bị bắt tạm giam từ ngày 01-3-2023; đang bị tạm giam – Có mặt.
2. Ngô Hoàng T, sinh năm 1986 tại tỉnh Hà Nam; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã G, huyện M, tỉnh Đăk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Quyết Ch (sinh năm 1945) và bà Trần Thị M (đã chết); chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 34/2011/HSST ngày 10-8-2011 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông, bị xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản” và 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã được xóa án tích; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01-4-2023; đang bị tạm giam – Có mặt.
Ngoài ra, trong vụ án này còn có các bị cáo Cao Văn C, Nguyễn Thế Q không có kháng cáo, không bị kháng cáo và kháng nghị.
Người bào chữa cho bị cáo Ngô Cao Tr:
- Ông Phạm Quốc H, Luật sư thuộc Công ty TNHH H và cộng sự; địa chỉ: Tổ dân phố B, phường T, thành phố G, tỉnh Đăk Nông – Có mặt;
- Ông Trần Thanh B, Luật sư thuộc Công ty luật TNHH Trần Thanh B; địa chỉ: Tổ C đường Q, phường I, quận Y, Thành phố Hà Nội – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Anh Hứa Văn C1 nhiều lần vay tiền của Ngô Cao Tr nhưng không trả, tổng số tiền nợ là 49.000.000 đồng. Đến ngày 18-12-2022, Ngô Cao Tr hẹn gặp Ngô Hoàng T, Nguyễn Thế Q, Cao Văn C để uống cà phê, có nói sự việc anh C1 nợ tiền không trả và thách thức. Sau đó, T điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 48A-103.40 chở Tr, Q, C đi vào rẫy nhà Tr chơi, trên đường đi Tr có nói vào nhà anh C1 đòi nợ, nếu anh C1 không trả thì đánh dằn mặt, T và Q đồng ý. Đến nơi, Tr nói C vào gọi cửa nhà anh C1; khi anh C1 mở cửa nhà thì T, Q yêu cầu anh C1 ra nói chuyện nhưng anh C1 không đồng ý nên T, Q, C đi vào kéo anh C1 ra sân, dùng tay chân đánh nhiều lần vào mặt anh C1, đe dọa cắt cổ và khiêng anh C1 lên xe ô tô chở đi nơi khác nếu anh C1 không chịu trả tiền. Tiếp đó, T, Q, C bế anh C1 lên khỏi mặt đất thì anh C1 hẹn nửa tháng sẽ trả tiền thì tất cả thả anh C1 xuống. T yêu cầu anh C1 viết giấy nợ nếu không sẽ cắt cổ, đưa cả nhà anh C1 lên xe và cả nhóm ra về. Anh C1 lo sợ tiếp tục bị đánh nên đã vay tiền trả nợ cho Tr. Ngày 28-12-2022, anh C1 hẹn Tr đến quán cà phê để trả tiền; anh C1 đếm đủ 50.000.000 đồng và đặt trên bàn, Tr lấy 01 tờ 500.000 đồng trả tiền nước. Vào lúc 10 giờ 00 phút Công an tỉnh Đăk Nông bắt quả tang Ngô Cao Tr, thu giữ số tiền 49.914.000 đồng và một số tang vật khác.
Quá trình điều tra xác định anh C1 có vay tiền của Tr nhưng không xác định được số tiền nợ, anh C1 khai số tiền Tr yêu cầu trả là 50.000.000 đồng, Tr khai yêu cầu anh C1 trả 49.000.000 đồng. Căn cứ vào các tài liệu trong vụ án xác định Tr yêu cầu anh C1 trả 49.000.000 đồng và Tr thỏa thuận với T, Q, C dùng vũ lực uy hiếp anh C1 trả số tiền này.
Bản án số: 62/2023/HS-ST ngày 28-9-2023 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Song, tỉnh Đăk Nông quyết định: Tuyên bố các bị cáo Ngô Cao Tr, Ngô Hoàng T phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Ngô Cao Tr 03 năm tù, tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 01-3-2023 và được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 28-12-2022 đến ngày 06-01-2023; xử phạt bị cáo Ngô Hoàng T 02 năm tù, tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 01-4-2023.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về tội danh và hình phạt đối với các bị cáo Cao Văn C và Nguyễn Thế Q, xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, án phí và thông báo quyền kháng cáo.
Ngày 05-10-2023, bị cáo Tr kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo; ngày 03-10-2023, bị cáo T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên toà phúc thẩm, các bị cáo thừa nhận bị Tòa án nhân dân huyện Đăk Song xử phạt về tội“Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 của Bộ luật Hình sự là đúng, không oan và giữ nguyên nội dung kháng cáo. Bị cáo Tr từ chối Luật sư Trần Thanh B bào chữa cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Nông phát biểu quan điểm: Hội đồng xét xử sơ thẩm xử phạt các bị cáo về tội“Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật; tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ mới. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Tr (nội dung giảm hình phạt) và toàn bộ kháng cáo của bị cáo T; áp dụng thêm điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo, xử phạt bị cáo Tr từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù và bị cáo T từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù.
Luận cứ bào chữa của luật sư cho bị cáo Tr: Luật sư H thống nhất với quan điểm của Kiểm sát viên; đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Tr, xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 170 của Bộ luật Hình sự và cho bị cáo được hưởng án treo.
Các bị cáo không bào chữa, tranh luận; đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Bản án số: 62/2023/HS-ST ngày 28-9-2023 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Song, tỉnh Đăk Nông kết án các bị cáo Tr, T về tội“Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 của Bộ luật Hình sự là đúng pháp luật, không oan.
. Xét kháng cáo của các bị cáo:
. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và nộp thêm tình tiết mới ông Ngô Quyết Ch (bố ruột của các bị cáo) được tặng thưởng Huận chương chiến sĩ giải phóng hạng ba các năm 1974, 1975, 1976 và các thành tích khác nên có căn cứ áp dụng thêm điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo.
. Đối với bị cáo Tr: Do bị cáo được áp dụng thêm các tình tiết giảm nhẹ mới nên Hội đồng xét xử phúc thẩm có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Tr về nội dung xin giảm hình phạt, sửa bản án sơ thẩm về hình phạt.
. Đối với bị cáo T: Mặc dù bị cáo cũng được áp dụng thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới như bị cáo Tr nhưng bị cáo là người thực hành tích cực, sau khi phạm tội đã bỏ trốn và bị bắt truy nã; đồng thời, Hội đồng xét xử sơ thẩm xử phạt bị cáo mức hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.
. Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật; do kháng cáo được chấp nhận một phần nên bị cáo Tr không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
. Đối với các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ các điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điều 356; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Ngô Cao Tr, sửa bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ngô Hoàng T, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo:
1.1. Áp dụng khoản 1 Điều 170; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Ngô Cao Tr 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 01-3-2023 và được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 28-12-2022 đến ngày 06-01-2023.
1.2. Áp dụng khoản 1 Điều 170; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Hoàng T 02 (hai) năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 01-4-2023.
2. Về án phí phúc thẩm: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Ngô Hoàng T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tối cao (Vụ I) (1); - VKSND tỉnh Đăk Nông (2); - Phòng Hồ sơ Công an tỉnh Đ (1); - Sở Tư pháp tỉnh Đ (2); - CQ CSĐT Công an huyện Đăk Song (1); - VKSND huyện Đăk Song (1); - TAND huyện Đăk Song (3); - CQ THAHS Công an huyện S (1); - Chi cục THADS huyện S (1); - Nhà tạm giữ Công an huyện S (3- Kính nhờ NTG giao bản án cho các bị cáo); - Lưu: Tổ HCTP (1), THS (1), HSVA (1). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký và đóng dấu) Nguyễn Hồng Chương |