vanban.org

Bản án 98/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bạc Liêu Tuyên án 14/12/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 14/12/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trương Thị B. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2023/HS-ST, ngày 25/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu.

Tuyên bố bị cáo Trương Thị B phạm tội “Cướp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trương Thị B 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự phúc thẩm - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trương Thị B. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2023/HS-ST, ngày 25/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 168 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2023/HS-PT
Ngày 14 tháng 12 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Tân

Các Thẩm phán:

Ông Trần Minh Tấn

Bà Châu Minh Nguyệt

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phái - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Triệu Ngọc Nhi, Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu mở phiên tòa xét xử công khai phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 111/2023/TLPT-HS, ngày 31 tháng 10 năm 2023, do bị cáo Trương Thị B có kháng cáo Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2023/HS-ST, ngày 25/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu.

Bị cáo kháng cáo:

Họ và tên: Trương Thị B, sinh năm: 1982, tại huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu; nơi cư trú: Ấp C, xã A, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Làm vuông; con ông Trương Văn C, sinh năm 1952 và bà Dương Thị N, sinh năm 1955; chồng Huỳnh Văn H, sinh năm 1972 (đã ly hôn); con 03 người, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2019. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị khởi tố bị can và áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/11/2022 cho đến nay. (có mặt)

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Trịnh Thanh Nhân – Văn phòng Luật sư Trịnh Thanh Minh, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Bạc Liêu.

Bị hại không kháng cáo: Bà Đào Thị R, sinh năm 1958. Địa chỉ: Áp C, xã A, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 23/12/2021, bị cáo thuê anh Phan Công Điện điều khiển xe mô tô chở bị cáo đi chợ Cái Keo, trên đường đi bị cáo nhìn thấy bà Đào Thị R điều khiển xe theo hướng ngược lại nên bị cáo yêu cầu bà R dừng xe. Bà R dừng lại những vẫn ngồi trên xe, bị cáo yêu cầu bà R trả số tiền 2.000.000 đồng nhưng bà R không có tiền trả nên xảy ra cải nhau. Nhìn thấy bà R đeo sợi dây chuyền vàng trên cổ nên bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt đem cầm 2.000.000 đồng để trừ nợ. Bị cáo nhào tới dùng hai tay tháo sợi dây chuyền của bà R, bà R dùng tay che dây chuyền lại không cho bị cáo lấy. Do phải ngồi trên xe giữ thăng bằng nên bị cáo tháo sợi dây chuyền bà R không ngăn cản được, chỉ dùng tay nắm lấy sợi dây chuyền giành lại làm cho sợi dây chuyền bị đứt thành hai đoạn, bà R cầm đoạn dây chuyền ngắn, bị cáo cầm đoạn dây chuyền dài. Bị cáo tiếp tục dùng tay gỡ tay bà R và đã chiếm đoạt được đoạn dây chuyền còn lại, rồi bị cáo kêu anh Điện điều khiển xe chở về hướng chợ Cái Keo. Sau đó, ông Nguyễn Văn Toàn (là con bà R) biết sự việc nên trình báo công an.

Tại kết luận giám định số 5608/KL-KTHS, ngày 24/10/2022 của Phân viện kỹ thuật hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

- Một đoạn dây kim loại màu vàng dạng khoen lật dài 43cm, rộng 0,6cm nơi móc khóa có chữ “HỌC 17K”, khối lượng 13,5915gam (ký hiệu M1) được niêm phong gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là Vàng (Au). Hàm lượng Vàng (Au): 71,02%.

- Một đoạn dây kim loại màu vàng dạng khoen lật dài 13,7cm, rộng 0,6cm, khối lượng 5,4530gam (ký hiệu M2) được niêm phong gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là Vàng (Au). Hàm lượng Vàng (Au): 71,02%.

Tại bản kết luận định giá số 35/HĐ, ngày 30/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đông Hải kết luận: Một đoạn dây kim loại màu vàng dạng khoen lật dài 43cm, rộng 0,6cm nơi móc khóa có chữ “HỌC 17K”, khối lượng 13,5915gam có thành phần kim loại chủ yếu bằng Vàng (Au). Hàm lượng Vàng (Au): 71,02% có giá trị: 14.137.500 đồng.

Một đoạn dây kim loại màu vàng dạng khoen lật dài 13,7cm, rộng 0,6cm, khối lượng 5,4530gam có thành phần kim loại chủ yếu bằng Vàng (Au). Hàm lượng Vàng (Au): 71,02% có giá trị: 5.655.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản đến ngày 23/12/2021 có giá trị: 19.792.500 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2023/HS-ST, ngày 25/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu quyết định: Tuyên bố bị cáo Trương Thị B phạm tội “Cướp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trương Thị B 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 06/10/2023, bị cáo Trương Thị B kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo. Bị cáo không nộp thêm tài liệu, chứng cứ.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Trương Thị B giữ nguyên nội kháng cáo và đề nghị xem xét về hành vi của bị cáo chưa đến mức phạm tội cướp tài sản như cấp sơ thẩm xét xử.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu phát biểu quan điểm: Về thời hạn kháng cáo và thủ tục kháng cáo của bị cáo đã được thực hiện trong thời hạn và đúng hình thức theo quy định của pháp luật.

Về nội dung kháng cáo: Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu đã xét xử bị cáo Trương Thị B về tội “Cướp tài sản”, áp dụng khoản 1 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trương Thị B 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù là có căn cứ, đúng pháp luật. Bị cáo kháng cáo nhưng không có tình tiết giảm nhẹ nào mới, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về hành vi của bị cáo bị xét xử về tội “Cướp tài sản” là chưa thuyết phục. Đồng thời về nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, thật thà khai báo, ăn năn hối cải, có nơi cư trú rõ ràng nên cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa và đề nghị của Viện Kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo nộp trong hạn luật định nên được đưa ra xét xử theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị hại và người có liên quan toàn bộ diễn biến về thời gian, địa điểm xảy ra hành vi phạm tội và phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do bà Đào Thị R thiếu nợ bị cáo số tiền 2.000.000 đồng, mặc dù đã nhắc nhở nhiều lần nhưng bà R không trả tiền nên khoảng 14 giờ, ngày 23/12/2021 tại ấp Cái Keo, xã An Phúc, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu, bị cáo Trương Thị B có hành vi dùng vũ lực làm cho bà Đào Thị R không thể chống cự được để chiếm đoạt 01 sợi dây chuyền vàng 17K, tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị 19.792.500 đồng. Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Cướp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự, việc truy tố, xét xử bị cáo là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[3] Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh, trật tự trị an ở địa phương. Do đó, cần phải xử lý nghiêm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, phòng ngừa chung. Cấp sơ thẩm đã áp đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo, nhưng không có thêm tình tiết mới, nên Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cũng như đề nghị của Luật sư bào chữa cho bị cáo.

[4] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu là có căn chấp nhận.

[5] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Trương Thị B phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

[6] Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2023/HS-ST, ngày 25/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu không có kháng cáo, kháng nghị được giữ nguyên.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trương Thị B. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2023/HS-ST, ngày 25/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu.

2. Tuyên bố bị cáo Trương Thị B phạm tội “Cướp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trương Thị B 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn chấp hành án phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Trương Thị B phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ