vanban.org

Bản án 98/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Nguyễn Thị P được ly hôn ông Nguyễn Xuân V. Về con chung: Có 03 con chung là Nguyễn Trần Nhã U sinh ngày 04/6/2016, Nguyễn Trần Minh H sinh ngày 17/7/2018, Nguyễn Trần Nhã P1 sinh ngày 23/6/2020. Giao 03 con chung cho bà Nguyễn Thị P trực tiếp nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUY PHONG
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 21 - 12 - 2023
V/v: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đồng Vũ.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phan Hoài Bảo.

2. Bà Trần Thị Hà.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hoài Trọng, Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Bích Dung, Kiểm sát viên.

Ngày 21/12/2023, tại Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 438/2023/TLST-HNGĐ ngày 03/10/2023 về việc “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1997. (Có mặt)

Địa chỉ: Khu phố a, thị trấn L, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Xuân V, sinh năm 1993. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố a, thị trấn L, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai của đương sự và tại phiên tòa nguyên đơn trình bày: Bà Nguyễn Thị P và ông Nguyễn Xuân V tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận kết hôn số 67 ngày 06/4/2016. Bà P và ông V chỉ hạnh phúc được 01 tháng đầu tiên, sau đó thì thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do ông V thường xuyên ăn nhậu, sử dụng ma túy rồi về nhà kiếm chuyện chửi mắng, đánh bà P và các con. Vì thương các con và muốn giữ hạnh phúc gia đình nên bà P cố gắng chịu đựng từ năm 2016 đến nay. Bà P nhiều lần khuyên nhưng ông V vẫn không thay đổi và tiếp tục sử dụng ma túy. Bà P và ông V không còn chung sống từ tháng 3/2023 đến nay và không còn quan tâm đến nhau nữa, nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

+ Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị P ly hôn ông Nguyễn Xuân V.

+ Về con chung: Quá trình chung sống, bà P và ông V có 03 con chung là Nguyễn Trần Nhã U sinh ngày 04/6/2016, Nguyễn Trần Minh H sinh ngày 17/7/2018, Nguyễn Trần Nhã P1 sinh ngày 23/6/2020, hiện nay bà P đang trực tiếp nuôi dưỡng. Bà P yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung, không yêu cầu ông V phải cấp dưỡng cho con.

+ Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn: Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng ông V từ chối nhận và không có mặt tại tòa để trình bày ý kiến.

Ngày 16/10/2023, Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong đã tiến hành xác minh tại khu phố 5, thị trấn L, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận, kết quả như sau: Ông Nguyễn Xuân V có mặt tại địa phương, các văn bản tố tụng của Tòa án ông V đều từ chối nhận. Về tình trạng hôn nhân: bà P làm đơn ly hôn là do ông V không lo làm ăn, thường xuyên ăn nhậu, chửi mắng vợ; Về con chung: Có 03 con chung là Nguyễn Trần Nhã U, Nguyễn Trần Minh H, Nguyễn Trần Nhã P1 hiện đang sống với bà P.

Vụ án không tiến hành hòa giải được do bị đơn không có mặt tại Tòa án.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong:

Về việc tuân theo pháp luật, thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký tiến hành tố tụng đ ng quy định.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn. Về con chung: Có 03 con chung là Nguyễn Trần Nhã U sinh ngày 04/6/2016, Nguyễn Trần Minh H sinh ngày 17/7/2018, Nguyễn Trần Nhã P1 sinh ngày 23/6/2020, đề nghị giao 03 con chung cho bà P tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng cho con, tài sản chung và nợ chung: Không ai yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa cũng như căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị P khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Xuân V và tranh chấp nuôi con chung do đó Tòa án thấy rằng đây là “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Bị đơn có địa chỉ cư tr tại thị trấn L, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong.

Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị P và ông Nguyễn Xuân V tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận nên hôn nhân hợp pháp. Theo lời khai của nguyên đơn và biên bản xác minh tại địa phương thì sau khi xảy ra mâu thuẫn vợ chồng thì bà P ông V không còn chung sống như vợ chồng từ tháng 3/2023 đến nay và không còn quan tâm đến nhau nữa, nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà P yêu cầu ly hôn ông V. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông V nhưng ông V từ chối nhận và không đến Tòa để giải quyết. Như vậy tình trạng hôn nhân của bà P và ông V đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, để đảm bảo quyền lợi của các đương sự và ổn định cuộc sống cho các bên, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, Điều 54, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.

Về con chung: Bà P và ông V có 03 con chung là Nguyễn Trần Nhã U sinh ngày 04/6/2016, Nguyễn Trần Minh H sinh ngày 17/7/2018, Nguyễn Trần Nhã P1 sinh ngày 23/6/2020 bà P đang trực tiếp nuôi dưỡng, nay bà P yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung. Xét thấy ông V không đến tòa để trình bày ý kiến, các con chung hiện nay bà P đang trực tiếp nuôi dưỡng, Nguyễn Trần Nhã U cũng có nguyện vọng được ở với bà P, nên giao 03 con chung cho bà P tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng cho con, tài sản chung và nợ chung: Đương sự không có yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bà Nguyễn Thị P phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 244, khoản 1, khoản 3 Điều 218 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, khoản 3 Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Nguyễn Thị P được ly hôn ông Nguyễn Xuân V.

2. Về con chung: Có 03 con chung là Nguyễn Trần Nhã U sinh ngày 04/6/2016, Nguyễn Trần Minh H sinh ngày 17/7/2018, Nguyễn Trần Nhã P1 sinh ngày 23/6/2020. Giao 03 con chung cho bà Nguyễn Thị P trực tiếp nuôi dưỡng.

Ông Nguyễn Xuân V có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí:

Bà Nguyễn Thị P là nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0017372 ngày 03/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phong. Bà Nguyễn Thị P đã nộp đủ án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ