vanban.org

Bản án 98/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Võ Văn T với chị Huỳnh Thúy K.

Anh Võ Văn T và chị Huỳnh Thúy K được ly hôn. Về con chung: Giao con chung là cháu Võ Thị Mai L, sinh ngày 28/3/2005, cháu Võ Thành Đ, sinh ngày 23/4/2007 cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, ghi nhận anh T không yêu cầu chị K phải cấp dưỡng nuôi con, chị K được quyền thăm … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Võ Văn T - Huỳnh Thuý K"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Võ Văn T với chị Huỳnh Thúy K.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HÒA THÀNH
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 29 – 9 – 2023
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HÒA THÀNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lâm Thị Nguyện

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Bích Liễu

2. Ông Tô Hiền Đức

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Lan – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Lâm Thúy Vi- Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 204/2023/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 7 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2023/QĐXX-ST ngày 25 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Võ Văn T, sinh năm 1984; địa chỉ: Số 13, ấp T, xã Đ, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Chị Huỳnh Thúy K, sinh năm 1985; địa chỉ: Số 13, ấp T, xã Đ, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Võ Văn T trình bày: Anh T và chị Huỳnh Thúy K quen biết, tìm hiểu và đi đến hôn nhân, đăng ký kết hôn ngày hôn 06/12/2005, tại Ủy ban nhân dân xã Trường Đông, thị xã Hòa Thành. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 7/2022 sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do chị K đi bán vé số, ban đầu đi tới 9 giờ tối, sau đó đi đến 12 giờ đêm, đến tháng 11/2022 đến nay chị K bỏ đi luôn không về nhà, anh T và các con đi tìm nhưng không gặp. Nhận thấy, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài nên nay anh T yêu cầu ly hôn với chị K.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Võ Thị Mai Loan, sinh ngày 28/3/2005, Võ Thành Đạt, sinh ngày 23/4/2007, anh T yêu cầu được nuôi dưỡng hai cháu, không yêu cầu chị K cấp dưỡng nuôi con. Chị K được quyền thăm con chung, không ai cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Không có ai khác nợ lại hai vợ chồng.

* Bị đơn chị Huỳnh Thúy K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng chị K vắng mặt không có lý do.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền theo Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa sơ thẩm dân sự; Thư ký thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: anh T, chị K tự nguyện chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã Trường Đông, thị xã Hòa Thành, đây là hôn nhân hợp pháp nên đươc pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn , từ tháng 11/2022 đến nay chị K bỏ đi luôn không về nhà, anh T và các con đi tìm nhưng không gặp. Xét thấy tình cảm vợ chồng của anh chị đã hết, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài nên anh T xin ly hôn với chị K là có căn cứ chấp nhận.

Về con chung: Giao cháu Võ Thị Mai L, sinh ngày 28/3/2005, Võ Thành Đ, sinh ngày 23/4/2007 cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, ghi nhận anh T không yêu cầu chị K cấp dưỡng nuôi con. Chị K được quyền thăm con chung, không ai cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh T khai không có tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Tính án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

Anh Võ Văn T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, chị Huỳnh Thúy K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh T, chị K theo quy định tại Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét về quan hệ hôn nhân của anh Võ Văn T với chị Huỳnh Thúy K thấy rằng: anh T, chị K quen biết, tìm hiểu mới đi tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã Trường Đông, thị xã Hòa Thành năm 2005, đây là hôn nhân hợp pháp nên đươc pháp luật bảo vệ. Anh T thừa nhận anh T và chị K chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do chị K tự bỏ nhà đi sinh sống nơi khác, anh T và các con đã nhiều lần tìm gặp nhưng chị K cố tình tránh mặt. Quá trình giải quyết Tòa án có triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng chị K không lên Tòa cũng không có động thái hàn gắn mối quan hệ vợ chồng. Do đó, giữa anh T, chị K không còn tình cảm vợ chồng, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh T là có cơ sở phù hợp.

Về con chung: Tại bản tự khai ngày 17/7/2023 cháu Võ Thị Mai L, sinh ngày 28/3/2005, cháu Võ Thành Đ, sinh ngày 23/4/2007 có nguyện vọng được sống cùng Ba. Do đó giao con chung là cháu cháu Võ Thị Mai L, sinh ngày 28/3/2005, cháu Võ Thành Đ, sinh ngày 23/4/2007 cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, ghi nhận anh T không yêu cầu chị K phải cấp dưỡng nuôi con, chị K được quyền thăm con chung, không ai cản trở.

Tài sản chung, nợ chung: anh T không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn như nhận định nêu trên là có cơ sở phù hợp.

Về án phí: Anh T phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 /12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 228, Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 9, Điều 14, Điều 51, 53, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Võ Văn T với chị Huỳnh Thúy K.

Anh Võ Văn T và chị Huỳnh Thúy K được ly hôn.

2. Về con chung: Giao con chung là cháu Võ Thị Mai L, sinh ngày 28/3/2005, cháu Võ Thành Đ, sinh ngày 23/4/2007 cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, ghi nhận anh T không yêu cầu chị K phải cấp dưỡng nuôi con, chị K được quyền thăm con chung, không ai cản trở.

3. Tài sản chung, nợ chung: anh T không yêu cầu giải quyết về tài sản chung nên không đặt ra giải quyết.

4. Về án phí: Anh Võ Văn T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh T đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0021673 ngày 07/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh. Ghi nhận anh T đã nộp án phí xong.

Anh Võ Văn T và chị Huỳnh Thúy K có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ