- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Hồ Thị Đ khởi kiện vụ án tranh chấp về ly hôn với ông Trần Văn T"
- Tòa quyết gì? 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 98/2023/HNGĐ-ST Ngày: 18-4-2023 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hùng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Tôn Phước Thuận;
2. Bà Nguyễn Thị Hồng Huệ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Bá Thi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Chợ Mới, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham
gia phiên tòa: không tham gia.
Trong ngày 18 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ
Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 47/2023/TLST-HNGĐ ngày 31
tháng 01 năm 2023 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số 156/2023/QĐXX-ST ngày 14 tháng 3 năm 2023, Quyết định hoãn
phiên tòa số 161/2023/QĐST-HNGĐ ngày 31/3/2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Hồ Thị Đ, sinh năm 1992; địa chỉ: ấp L, xã L, huyện
C, tỉnh An Giang; có mặt.
2. Bị đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm 1978; địa chỉ: tổ 23, ấp L, xã L,
huyện C, tỉnh An Giang; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Hồ Thị Đ trình bày: Bà
Đ và ông Trần Văn T kết hôn trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn và
được Ủy ban nhân dân xã Long Điền B, huyện Chợ Mới cấp giấy chứng nhận
kết hôn ngày 06/9/2018. Thời gian chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát
sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau, nên đã ly thân không còn sống
chung với nhau. Nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt
được nên không thể kéo dài. Nay yêu cầu được ly hôn với ông T; Về con chung: vợ chồng có 01 con chung tên là Trần Thị Cẩm T, sinh ngày 10/4/2013 hiện đang sống với ông T, bà Đ không tranh chấp việc nuôi con, đồng ý để ông T nuôi dưỡng con chung; về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết và về nợ chung: không có.
Bị đơn ông Trần Văn T trình bày: Ông T nhận được thông báo thụ lý vụ
án của Tòa án về việc vợ là là Hồ Thị Đ xin ly hôn, ý kiến của ông là đồng ý ly hôn theo yêu cầu của vợ; Về con chung: đồng ý tiếp tục nuôi con chung là Trần Thị Cẩm T, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung: vợ chồng có tài sản chung là quyền sử dụng đất đứng tên chung của vợ chồng, ông không khởi kiện phản tố để yêu cầu phân chia trong vụ án này, đề nghị Tòa án cho thời gian tự thỏa thuận.
Tại phiên tòa, bà Hồ Thị Đệ, giữ nguyên yêu cầu khởi kiện theo đơn; ông
Trần Văn T đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà Hồ Thị Đệ, yêu cầu bà Hồ Thị Đ cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật, bà Hồ Thị Đ tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 1.500.000đồng/tháng, ông T đồng ý nhận tiền cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 1.500.000đồng/tháng; bà Hồ Thị Đ tự nguyện chịu án phí hôn nhân sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Bà Hồ Thị Đ khởi kiện vụ án tranh chấp về ly hôn với ông Trần Văn
T. Ông T có nơi cư trú trên địa bàn huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa bà Hồ Thị Đ và ông Trần Văn T
là hợp pháp vì ông bà có đăng ký kết hôn. Trong cuộc sống chung vợ chồng ông bà sống không hợp nhau, theo nguyên đơn trình bày là thời gian chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Tại phiên tòa, ông T đồng ý ly hôn với bà Đ. Xét thấy, ông T, bà Đ tự nguyện ly hôn. Căn cứ Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án công nhận sự thuận tình ly hôn của ông T, bà Đ.
Về quan hệ con chung: Bà Hồ Thị Đ và ông Trần Văn T xác định vợ
chồng có 01 con chung tên là Trần Thị Cẩm T, sinh ngày 10/4/2013 hiện đang sống với ông T, bà Đ không tranh chấp việc nuôi con, đồng ý để ông T nuôi dưỡng con chung. Xét thấy, con chung đang được ông T chăm sóc, nuôi dưỡng, phát triển ổn định. Đồng thời, theo biên bản ghi ý kiến cháu T có nguyện vọng được sống cùng ông T trong trường hợp bà Đ, ông T ly hôn. Do đó, để đảm bảo ổn định cuộc sống cho con chung, giúp cháu T phát triển tốt về thể chất, tinh thần, Hội đồng xét xử giao cháu T cho ông T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng theo Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Tại phiên tòa, ông T yêu cầu cấp
dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật; bà Đ tự nguyện cấp dưỡng nuôi con
mỗi tháng là 1.500.000đồng/tháng, ông T đồng ý nhận tiền cấp dưỡng nuôi con
mỗi tháng là 1.500.000đồng/tháng. Các đương sự tự nguyện thỏa thuận, phù hợp
với quy định pháp luật cho nên Hội đồng xét xử công nhận và ấn định thời gian
thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng là ngày 01/4/2023 cho đến khi con chung thành
niên và có khả năng lao động.
Về quan hệ tài sản chung: Bà Đ khởi kiện xác định không yêu cầu Tòa
án giải quyết nên không xét đến; ông T xác định vợ chồng có tài sản chung là
quyền sử dụng đất đứng tên chung của vợ chồng, ông không khởi kiện phản tố
để yêu cầu phân chia trong vụ án này, cho nên không xét đến. Khi có yêu cầu
tranh chấp thì tòa án sẽ giải quyết bàng vụ án khác.
Về nợ chung: Không có nên không xét đến.
Về án phí: Tại phiên tòa, bà Hồ Thị Đ tự nguyện chịu án phí hôn nhân
sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con cho nên Hội đồng xét công nhận sự tự
nguyện.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Các Điều 28, 35, 39, 147và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các
Điều 55, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị Đệ.
1) Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn của bà Hồ Thị Đ
với ông Trần Văn T. Giấy chứng nhận kết hôn số 149 ngày 06/9/2018 do Ủy ban
nhân dân xã Long Điền B, huyện C, tỉnh An Giang cấp, không còn giá trị pháp
lý.
2) Về quan hệ con chung: Ông Trần Văn T được tiếp tục nuôi con chung
tên là Trần Thị Cẩm T, sinh ngày 10/4/2013. Bà Hồ Thị Đ có nghĩa vụ cấp
dưỡng nuôi con mỗi tháng là 1.500.000đồng cho đến khi cháu Trần Thị Cẩm T
thành niên và có khả năng lao động nuôi sống bản thân; thời điểm bắt đầu việc
thực hiện cấp dưỡng kể từ ngày 01/5/2023.
Ông Trần Văn T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản
trở bà Hồ Thị Đ trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có
thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc
cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
3) Về quan hệ tài sản chung: Bà Hồ Thị Đ khởi kiện xác định không yêu
cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến; ông Trần Văn T xác định vợ chồng có tài sản chung là quyền sử dụng đất đứng tên chung của vợ chồng, ông không khởi kiện phản tố để yêu cầu phân chia trong vụ án này, cho nên không xét đến. Khi có yêu cầu tranh chấp thì tòa án sẽ giải quyết bằng vụ án khác.
4) Về nợ chung: Không có nên không xét đến.
5) Về án phí: Bà Hồ Thị Đ phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là
300.000đồng (Bằng chữ: Ba trăm nghìn đồng) và án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000đồng (Bằng chữ: Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào tiền tạm nộp án phí đã nộp 300.000đồng (Bằng chữ: Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0013197 ngày 31/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Bà Hồ Thị Đ phải nộp thêm 300.000đồng (Bằng chữ: Ba trăm nghìn đồng).
6) Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự
có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND H. Chợ Mới; - TAND tỉnh An Giang; - Chi cục THADS H. Chợ Mới; - UBND xã L, huyện C, tỉnh An Giang; - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Hùng |