vanban.org

Bản án 98/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Lê Văn T. Ông Lê Văn T được ly hôn với bà Lê Thị B.

Về nuôi con nuôi, chia tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét. Về án phí: Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch 300.000 đồng, ông T phải chịu nộp án phí 300.000 đồng, ông T có nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án Lê Văn Thù-Lê Thị Bảnh"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Lê Văn T. Ông Lê Văn T được ly hôn với bà Lê Thị B.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÁI NƯỚC
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2023/HNGĐ-ST
Ngày 25-5-2023
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tạo

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tấn Lộc

Ông Đỗ Thanh Tú

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thu Khiếm - Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

Ngày 25 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 198/2023/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Lê Văn T, sinh năm 1961 (có mặt).

- Bị đơn: Bà Lê Thị B, sinh năm 1965 (có mặt).

Cùng địa chỉ cư trú: Khóm T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 30 tháng 3 năm 2023 và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ thể hiện, nguyên đơn ông Lê Văn T trình bày yêu cầu:

- Về hôn nhân: Qua thời gian quen biết, tìm hiểu nhau nên ông T và bà B kết hôn với nhau vào năm 1983, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Cái Nước, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau vào năm 2004. Khi mới kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc nhưng đến năm 2021 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, bà B đi đám cưới ở Cà Mau mà không cho ông T hay, ông T ghi ngờ bà B có quan hệ với người đàn ông khác vì thường tự ý bỏ nhà đi mà không cho ông T hay, dẫn đến vợ chồng thường hay cự cãi với nhau và vợ chồng cũng sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Xét thấy, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung vợ chồng không có hạnh phúc và không thể tiếp tục duy trì nên ông Lê Văn T xin được ly hôn với bà Lê Thị B.

- Về con chung: Không có con chung nhưng có 02 người con nuôi tên Lê Hoàng P, sinh năm 1993 (nam) và Lê Thị Thảo V, sinh năm 2000 (nữ). Khi ly hôn 02 người con nuôi đã trưởng thành và có cuộc sống riêng nên ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ thu và nợ trả: Vợ chồng tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại biên bản hòa giải ngày 25/4/2023 bị đơn bà Lê Thị B trình bày:

- Về hôn nhân: Qua thời gian quen biết, tìm hiểu nhau nên bà B và ông T kết hôn với nhau vào năm 1983, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Cái Nước, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau vào năm 2004. Khi mới kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc nhưng đến năm 2022 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông T có quan hệ với người phụ nữ khác dẫn đến vợ chồng thường hay cự cãi với nhau, bà B cũng thừa nhận là khi đi đám cưới ở Cà Mau mà không cho ông T hay vì tức giận ông T nên không muốn nói chứ không có quan hệ với người đàn ông khác như ông T trình bày và vợ chồng cũng đã sống ly thân từ tháng 12 năm 2022 cho đến nay. Mặc dù, giữa bà B và ông T có mâu thuận thường hay cự cãi với nhau nhưng bà B vẫn muốn hàn gắn hôn nhân với ông T nên không đồng ý ly hôn với ông T.

- Về con chung: Không có con chung nhưng có 02 người con nuôi tên Lê Hoàng P, sinh năm 1993 (nam) và Lê Thị Thảo V, sinh năm 2000 (nữ). Khi ly hôn 02 người con nuôi đã trưởng thành và có cuộc sống riêng nên bà B không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn và bị đơn vẫn bảo lưu ý kiến như trình bày trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền:

Tranh chấp giữa ông Lê Văn T với bà Lê Thị B là tranh chấp hôn nhân và gia đình về tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn bà Lê Thị B có địa chỉ cư trú tại khóm Tân Lập, thị trấn Cái Nước, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Ông T và bà B tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 1983, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Cái Nước, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau vào năm 2004 theo giấy chứng nhận kết hôn số 107 ngày 13 tháng 9 năm 2004. Vì vậy, quan hệ hôn nhân của ông T và bà B được pháp luật công nhận là vợ chồng.

Xét thấy, ông T xin ly hôn với bà B là vì trong quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra nhiều mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, bà B đi đám cưới ở Cà Mau mà không cho ông T hay, ông T ghi ngờ bà B có quan hệ với người đàn ông khác vì thường tự ý bỏ nhà đi mà không cho ông T hay, dẫn đến vợ chồng thường hay cự cãi với nhau và vợ chồng cũng sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Về phía bà B cũng cho rằng quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, do ông T có quan hệ với người phụ nữ khác dẫn đến vợ chồng thường hay cự cãi với nhau, bà B cũng thừa nhận là khi đi đám cưới ở Cà Mau mà không cho ông T hay vì tức giận ông T nên không muốn nói chứ không có quan hệ với người đàn ông khác như ông T trình bày và vợ chồng cũng đã sống ly thân từ tháng 12 năm 2022 cho đến nay. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa ông T và bà B đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể duy trì, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu duy trì hôn nhân cũng không đem lại hạnh phúc nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông T. Ông T được ly hôn với bà B theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con chung: Ông T và bà B xác định không có con chung, nhưng có 02 người con nuôi tên Lê Hoàng P, sinh năm 1993 (nam) và Lê Thị Thảo V, sinh năm 2000 (nữ). Khi ly hôn 02 người con nuôi đã trưởng thành và có cuộc sống riêng nên ông T và bà B không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đương sự không đặt ra yêu cầu nên không xem xét.

Về chia tài sản chung và nợ chung: Căn cứ vào Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự “Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó”, do đương sự không đặt ra yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không giá ngạch 300.000 đồng, người khởi kiện yêu cầu ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án có chấp nhận hay không chấp chận cho ly hôn đều phải chịu án phí nên ông T phải chịu nộp 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã dự nộp.

Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Lê Văn T. Ông Lê Văn T được ly hôn với bà Lê Thị B.

2. Về nuôi con nuôi, chia tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

3. Về án phí: Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch 300.000 đồng, ông T phải chịu nộp án phí 300.000 đồng, ông T có nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008997 ngày 03 tháng 4 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau được chuyển thu, không phải nộp tiếp.

4. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ