vanban.org

Bản án 98/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị Phương T và anh Trương Bá L ly hôn.

Về con chung: Xử giao cháu Trương Xuân T, sinh ngày 27/5/2014 (theo nguyện vọng của cháu T) và Trương Anh N, sinh ngày 05/12/2018 cho chị T chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh L không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh L có quyền thăm nom con chung, không ai được ngăn cản. Khi cần thiết chị T và anh L có quyền làm … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LÊ THỊ PHƯƠNG T - TRƯƠNG BÁ L"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị Phương T và anh Trương Bá L ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN BIÊN
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 07- 9-2023
“V/v ly hôn và nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN-TỈNH KIÊN GIANG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Tâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

1- Bà Nguyễn Thanh Nguyên.

2- Bà Trần Thu Trang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thúy Kiều, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang: Ông Trang Minh Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 9 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 184/2023/TLST-HNGĐ, ngày 30 tháng 6 năm 2023 về việc: “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 185/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 09 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 126/2023/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

1- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Phương T, sinh ngày 24/6/1984 (có mặt).

Địa chỉ: 230 U, phường S, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

2- Bị đơn: Anh Trương Bá L, sinh ngày 01/01/1976 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp R, xã T.A, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 24/4/2023 nguyên đơn chị Lê Thị Phương T trình bày và yêu cầu như sau:

Về hôn nhân: Chị và anh T Bá L kết hôn với nhau năm 2013, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán ở địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường S, thành phố R, tỉnh Kiên Giang vào ngày 26/8/2013, vợ chồng về chung sống được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân là do không hòa hợp, thường xuyên cự cải nhau, từ đó vợ chồng ly thân từ tháng 8/2022 cho đến nay. Nay chị xét thấy tình cảm của vợ chồng không còn nữa nên chị yêu cầu xin ly hôn với anh Trương Bá L.

Về con chung: Có 02 người con tên Trương Xuân T, sinh ngày 27/5/2014 và Trương Anh N, sinh ngày 05/12/2018, hiện nay các con sống với chị T. Nay chị yêu cầu được nuôi các con và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và nợ chung: Chị thừa nhận không có nên không yêu cầu giải quyết.

Đối với bị đơn anh Trương Bá L Tòa án đã tống đạt hợp lệ gồm: Thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh L vẫn vắng mặt và cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu của chị T.

Tại phiên tòa hôm nay, chị Lê Thị Phương T vẫn giữ nguyên ý kiến và yêu cầu như sau:

Về hôn nhân: Chị yêu cầu ly hôn với anh Trương Bá L.

Về con chung: Chị yêu cầu nuôi 02 con tên Trương Xuân T và Trương Anh N. Không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

Quan điểm của đại viện Viện kiểm sát:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, của Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Tuân thủ và chấp hành đúng theo quy định của pháp luật.

Về giải quyết vụ án:

Về hôn nhân: Ghi nhận yêu cầu của chị Lê Thị Phương T xử cho chị Trang và anh Trương Bá Luân được ly hôn.

Về con chung: Ghi nhận yêu cầu của chị Lê Thị Phương T giao cháu Trương Xuân T, sinh ngày 27/5/2014 (theo nguyện vọng của cháu T) và Trương Anh N, sinh ngày 05/12/2018 cho chị T chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh L không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và nợ chung: Chị T thừa nhận không có và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền xét xử: Đây là quan hệ tranh chấp về ly hôn, tranh chấp về nuôi con và bị đơn trong vụ án có nơi cư trú trên địa bàn huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Căn cứ khoản 1 Điều 28 điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử là đúng thẩm quyền.

Về thủ tục tố tụng: Đối với anh Trương Bá L được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt đối với anh Trương Bá L.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Chị Lê Thị Phương T và anh Trương Bá L kết hôn với nhau năm 2013, và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường S, thành phố R, tỉnh Kiên Giang vào ngày 26/8/2013 nên hôn nhận của chị T, anh L là hợp pháp.

Về mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, dẫn đến cự cải với nhau nên vợ chồng đã ly thân từ tháng 8/2022 cho đến nay.

Từ đó, xét thấy mâu thuẫn của vợ chồng ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị Phương T xử cho chị Lê Thị Phương T và anh Trương Bá L ly hôn là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Chị Lê Thị Phương T và anh Trương Bá L có 02 người chung tên Trương Xuân T, sinh ngày 27/5/2014 và Trương Anh N, sinh ngày 05/12/2018, khi ly hôn chị T yêu cầu xin được nuôi con, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con, xét thấy yêu cầu của chị T là có cơ sở chấp nhận. Bởi vì, từ khi ly vợ chồng ly thân đến nay chị T nuôi dưỡng 02 cháu, cuộc sống của các cháu đã ổn định, đồng thời cũng theo nguyện vọng của cháu T và bản thân của chị T có đủ điều kiện để nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T, xử giao cháu Trương Xuân T và Trương Anh N cho chị T chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh L không phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về tài sản và nợ chung: Chị T thừa nhận không có và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Lê Thị Phương T phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng). Nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng), theo lai thu số: 0008800 ngày 30/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Vậy chị T đã nộp đủ tiền án phí.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận, như đã nhận định nêu trên.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án và khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị Phương T và anh Trương Bá L ly hôn.

2. Về con chung: Xử giao cháu Trương Xuân T, sinh ngày 27/5/2014 (theo nguyện vọng của cháu T) và Trương Anh N, sinh ngày 05/12/2018 cho chị T chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh L không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh L có quyền thăm nom con chung, không ai được ngăn cản. Khi cần thiết chị T và anh L có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản và nợ chung: Chị Lê Thị Phương T thừa nhận không có và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

4. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Lê Thị Phương T phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng). Nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng), theo lai thu số 0008800 ngày 30/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Vậy chị T đã nộp đủ tiền án phí.

5. Báo quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm báo cho chị T có mặt biết có quyền kháng cáo Bản án trong hạn luật định là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (07/9//2023). Đối với anh L vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

6. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ