- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 98/2022/HS-PT Ngày: 17 – 6 – 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thúy Hằng.
Các Thẩm phán: Ông Trần Quốc Vũ;
Bà Phan Thị Mai Dung.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Song Tố Như - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Việt - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 85/2022/TLPT-HS ngày 23 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo Trịnh Vương Đ, do có kháng cáo của bị cáo Trịnh Vương Đ đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2022/HS-ST ngày 12 tháng 4 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Tây Ninh.
- Bị cáo có kháng cáo:
Trịnh Vương Đ, sinh ngày 16-01-1992 tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: khu phố X, Phường Y, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: tài xế; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Văn T (đã chết) và bà Phùng Thị L (sinh năm 1956); vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 11-01-2022 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Bưu điện tỉnh Tây Ninh; địa chỉ: số 168, đường A, khu phố B, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngọc L - chức vụ: Giám đốc; Tòa án không triệu tập
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trịnh Vương Đ là nhân viên hợp đồng làm nhiệm vụ lái xe ô tô tải, thu gom, chở hàng hóa (bưu kiện, bưu phẩm) cho Bưu điện thành phố T, trực thuộc Bưu điện tỉnh Tây Ninh. Vào khoảng 07 giờ 30 phút, ngày 30-11-2021, Đ đến kho hàng trung tâm khai thác vận chuyển tại đường H, khu phố Q, Phường Y, thành phố T để làm việc chuyển giao hàng. Trong lúc sắp xếp hàng hóa tại kho, Đ nhìn thấy một gói bưu kiện bên ngoài ghi loại hàng hóa là “Vật dụng gia đình, đồng hồ” để dưới nền nhà, không có người trông coi, quản lý nên nảy sinh ý định lấy trộm. Do biết kho hàng có lắp đặt hệ thống camera giám sát nên Đ dùng chân phải, đá di dời gói bưu kiện vào góc khuất camera, rồi dùng tay lấy gói bưu kiện bỏ vào 01 cái bao màu đỏ có sẵn tại kho hàng, đem cất giấu rồi tiếp tục quay lại làm việc bình thường. Đến 13 giờ 30 phút, cùng ngày, lợi dụng lúc nhân viên bốc vác đông người đang chất hàng hóa lên xe tải để đi giao, Đ lén lút lấy gói bưu kiện cất giấu trước đó bỏ vào thùng xe phía sau ô tô tải của Đ. Trong quá trình vận chuyển hàng đi giao, để tránh bị phát hiện, Đ tiếp tục đem gói bưu kiện cất giấu vào cabin nơi vị trí Đ ngồi lái xe. Khoảng 19 giờ cùng ngày, khi hết giờ làm việc, Đ lấy gói bưu kiện đã cất giấu, đem ra xe máy để chở về nhà.
Khi về đến nhà, Đ mở gói bưu kiện phát hiện bên trong có 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax dung lượng 256GB chưa qua sử dụng và 01 đồng hồ đeo tay hiệu Apple watch màu trắng đen, đã qua sử dụng; Đ lấy điện thoại di động đem ra sử dụng cá nhân; riêng đồng hồ, Đ cất giấu trong phòng ngủ tại nhà.
Đến ngày 18-02-2021, do gói hàng đã lâu không đến nơi nhận, anh Trần Cao T là khách hàng đặt mua gói bưu kiện đã liên hệ với Bưu điện. Khi nhận được phản ánh của khách hàng, anh Nguyễn Thanh H – Trưởng phòng Quản lý Kỹ thuật nghiệp vụ quản lý bưu kiện, bưu gửi của Bưu điện tỉnh Tây Ninh tiến hành kiểm tra, trích xuất camera tại kho hàng thì phát hiện Đ là người thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và trình báo công an.
Kết luận định giá tài sản số 66/KLĐG-TTHS ngày 22-12-2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax dung lượng 256GB, màu xanh ngọc giá định ngày 30-11-2021 là 37.000.000 đồng; 01 đồng hồ đeo tay hiệu Apple watch năm sản xuất 2018, Series 3, màu trắng đen đã qua sử dụng, giá định ngày 30-11-2021 là 5.090.000 đồng. Tổng cộng là 42.090.000 đồng
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2022/HSST ngày 12/4/2022 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Tây Ninh đã Quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51của Bộ luật Hình sự; Tuyên bố bị cáo Trịnh Vương Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Trịnh Vương Đ 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 23 tháng 4 năm 2022, bị cáo Trịnh Vương Đ có đơn kháng cáo xin áp dụng hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn hoặc cho hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo xin áp dụng hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn hoặc cho hưởng án treo.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trịnh Vương Đ, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị cáo không tham gia tranh luận.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Xét các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm đều hợp pháp. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xác định trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử vụ án tại cấp sơ thẩm, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, lời khai của bị cáo Trịnh Vương Đ phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định: Vào ngày 30-11-2021, tại kho hàng Trung tâm khai thác vận chuyển của Bưu điện tỉnh Tây Ninh, địa chỉ khu phố 2, Phường Y, thành phố T, tỉnh Tây Ninh, Trịnh Vương Đ đã lén lút lấy trộm 01 gói bưu kiện, bên trong có chứa 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax dung lượng 256GB, màu xanh ngọc trị giá 37.000.000 đồng và 01 đồng hồ đeo tay hiệu Apple watch năm sản xuất 2018, Series 3, màu trắng đen đã qua sử dụng, trị giá 5.090.000 đồng, tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 42.090.000 đồng. Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Trịnh Vương Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Vụ án mang tính chất ít nghiêm trọng tuy nhiên, hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ nên phải xét xử nghiêm khắc để đảm bảo răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội
Xét kháng cáo xin áp dụng hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn hoặc cho hưởng án treo của bị cáo Đ thấy rằng: Khi xét xử, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phía bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt; cha ruột bị cáo được Chủ tịch nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo mức hình phạt 06 tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, không nặng.
Tại cấp phúc thẩm, phía bị hại là Bưu điện tỉnh Tây Ninh đã có Công văn số 773/CV-BĐTN ngày 24-5-2022 về việc đề nghị Tòa án xem xét cho bị cáo Đ được hưởng án treo. Xét thấy bị cáo có đủ các điều kiện được hưởng án treo được quy định tại Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án tối cao, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo và không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên có căn cứ xem xét chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo; sửa bản án sơ thẩm.
Về án phí: Bị cáo không chịu án phí phúc thẩm hình sự theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH;
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
2. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trịnh Vương Đ.
3. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 28/2022/HS-ST ngày 12-4-2022 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Tây Ninh.
4. Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 60 của Bộ luật Hình sự,
Tuyên bố bị cáo Trịnh Vương Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Trịnh Vương Đ 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 01 (một) năm, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Trịnh Vương Đ cho UBND Phường Y, thành phố T, tỉnh Tây Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
“Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
5. Án phí: Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Trịnh Vương Đ không phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.
6. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT 1 (TANDTC); - VKSND. TTN; - TAND. TPT; - Chi cục THADS. TPT; - Công an TPT; - Phòng PV 06 CATTN; - Phòng lý lịch STP. TTN; - Phòng KTNV. TATTN; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu tập án HSPT. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thúy Hằng |