- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo: Tôn Thất A, Ngô Văn H, Nguyễn Thế L và Trần Văn C đều phạm tội “ Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự Xử phạt; Điều 54 Bộ luật Hình sự Xử phạt; Điều 134 Bộ luật Hình sự Xử phạt
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 98 /2022/HS-PT Ngày: 22 - 8 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Cường
Các Thẩm phán: Ông Lương Thanh Chín, ông Nguyễn Hồng Thái
- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Mai, là Thư ký Toà án của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Đỗ Ngọc Bích, Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 78/2022/TLPT-HS, ngày 26 tháng 6 năm 2022. Do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 58/2022/HS-ST ngày 13 tháng 5 năm 2022 của Tòa án nhân dân Huyện Y. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2022/QĐXXPT-HS, ngày 04 tháng 8 năm 2022 của Toà án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
Bị cáo có kháng cáo:
Trần Văn C (Tên gọi khác: Hí), sinh năm 1992; Nơi sinh: Bình Thuận; Nơi cư trú: Thôn 4, xã X, Huyện Y, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Thợ hồ; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn H và bà Lê Thị M ; Vợ: Nguyễn Thị Bích H1; con có 02 con, con lớn nhất 11 tuổi, con nhỏ nhất 08 tuổi;, Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 21/4/2011, C bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Thuận áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục, thời hạn 24 tháng, kể từ ngày 25/04/2011 tại Quyết định số 29/QĐ-UB(NC) về hành vi trộm cắp tài sản, chấp hành xong ngày 30/12/2012;
Ngày 26/9/2018, C bị Công an xã X, Huyện Y xử phạt vi phạm hành chính, về hành vi: trộm cắp tài sản, hình thức: phạt tiền, mức phạt: 1.500.000 đồng;
Ngày 17/9/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện Y ra Quyết định khởi tố vụ án, Quyết định khởi tố bị can đối với Trần Văn C, về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Ngày 25/8/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện Y ban hành Bản kết luận điều tra vụ án hình sự đề nghị truy tố. Ngày 10/11/2018, Viện kiểm sát nhân dân Huyện Y ra Quyết định đình chỉ vụ án và Quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can Trần Văn C, lý do C trộm cắp tài sản trị giá 139.500 đồng, phạm tội ít nghiêm trọng nhưng được bị hại bãi nại, do đó không cần thiết phải truy tố nên miễn trách nhiệm hình sự đối với C.
Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú số 10/2022/QĐ-TA ngày 14/3/2022 của Tòa án nhân dân Huyện Y. Bị cáo có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn C: Luật sư Lê Văn L - Công ty luật TNHH Một thành viên Bình Thuận. Địa chỉ: Số 10 đường 19/4, phường X1, thành phố Y1, tỉnh Bình Thuận.
Các bị cáo bị kháng cáo:
1. Tôn Thất A (Tên gọi khác: Út) - Sinh năm 1995; Nơi sinh: Bình Thuận; Nơi cư trú: Thôn 4, xã X, Huyện Y, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Tôn Thất K và bà Ngô Thị C; Vợ: Nguyễn Thị Bích T; con có 02 con, con lớn nhất 08 tuổi, con nhỏ nhất 06 tuổi; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an Huyện Y từ ngày 20/7/2021. Bị cáo có mặt.
2. Ngô Văn H (Tên gọi khác: Trọc); sinh 1998; Nơi sinh: Bình Thuận; Nơi cư trú: Thôn 4, xã X, Huyện Y, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Ngô Văn M và bà Đỗ Thị L; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an Huyện Y từ ngày 20/7/2021. Bị cáo có mặt.
3. Nguyễn Thế L; sinh 1999; Nơi sinh: Bình Thuận; Nơi cư trú: Thôn 4, xã X, Huyện Y, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn d và bà Nguyễn Thị T; Vợ: Nguyễn Thị Linh V; con có 02 con, con lớn nhất 03 tuổi, con nhỏ nhất 02 tuổi; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 01/9/2016, bị Tòa án nhân dân Huyện Y xử phạt 12 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” tại bản án số 69/2016/HSST, chấp hành xong hình phạt ngày 17/8/2017, được coi là không có án tích do lúc L phạm tội dưới 18 tuổi và phạm tội nghiêm trọng. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú số 08/2022/QĐ-TA ngày 03/3/2022 của Tòa án nhân dân Huyện Y. Bị cáo có mặt.
- Bị hại:
- Trần Văn C (Tên gọi khác: Hí); sinh 1992 (đồng thời là bị cáo trong vụ án)
- Tôn Thất A (Tên gọi khác: Út); sinh 1995(đồng thời là bị cáo trong vụ án)
Cùng địa chỉ: Thôn 4, xã X, Huyện Y, Bình Thuận;
Trong vụ án này còn có 04 bị cáo khác không kháng cáo, không bị kháng cáo, không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 10/02/2021, Tôn Thất A (Út), sinh năm 1995, ở xóm Cầu Quằn, thôn 4, xã X, Huyện Y tổ chức uống bia Sài Gòn xanh (loại chai thủy tinh) và hát karaoke cùng với Nguyễn Thế L, sinh năm 1999; Ngô Văn H (Trọc), sinh năm 1998; Nguyễn Thanh A2 (Rượu), sinh năm 1996; Trần Phúc A3, sinh năm 1991, cùng ở thôn 4, xã X; Nguyễn Hải A4, sinh năm 1998, ở thôn 6, xã H và Võ Ngọc Tường A4, sinh năm 1993, ở khu phố P, thị trấn P1 tại nhà của C. Đến khoảng 17 giờ 40 phút cùng ngày, Lê Văn B (Thượng), sinh năm 1995, ở xóm Ấp Gò, thôn 4, xã X lấy 03 viên pháo (loại pháo banh) ra đốt gây tiếng nổ tại khu vực chòi thanh long nhà B cách nơi C cùng số bạn đang nhậu khoảng 150m, sau khi đốt pháo xong, B lấy xe mô tô điều khiển đi về nhà. Nghe có tiếng pháo nổ, Tôn Thất A và L chạy ra để xem ai là người đốt pháo thì thấy B đi ngang qua, nghĩ B là người đốt pháo làm ảnhậu hưởng đến cuộc nhậu và hát karaoke nên C và L chạy theo kêu B dừng xe lại để nói chuyện. Tôn Thất A hỏi B tại sao đốt pháo ném vô nhà thì B nói không có, hai bên cãi nhau qua lại, Tôn Thất A và L dùng tay đánh trúng vào mặt B hai đến ba cái (không gây thương tích), B bỏ chạy về chòi thanh long nhà mình kể lại sự việc bị đánh cho ông Lê Văn T, sinh năm 1966 (là cha ruột B) nghe. Ông T điều khiển xe mô tô ra gặp Tôn Thất A và L để hỏi lý do tại sao đánh B thì bị Tôn Thất A và L dùng tay đấm vào trúng vào mặt hai đến ba cái (không gây thương tích), những người còn lại trong nhóm của Tôn Thất A thấy vậy nên đến can ngăn rồi hai bên giải tán, ông Thành điều khiển xe mô tô tới trìnhậu báo sự việc cho Công an xã X. Còn nhóm của Tôn Thất A tiếp tục quay vào nhậu và hát karaoke tiếp.
Tức giận vì bị đánh nên B gọi điện thoại cho Trần Văn C (Hí), sinh năm 1992 (là anhậu họ của B), ở xóm Ấp Gò, thôn 4, xã X nói: “Ông đang ở đâu vậy, coi có ai kêu thêm mấy thằng vào trong chòi của tôi đánh mấy thằng này, hồi nãy nó chặn đường đánh tôi” (nghĩa là B kêu Trần Văn C rủ thêm người vào đánh nhóm Tôn Thất A để trả thù cho B), C hiểu, đồng ý và nói: “Để coi thử có ai không”. Sau đó, Trần Văn C đi sang nhà của Lê Văn B (Chàm), sinh năm 1999, là em ruột của B, ở sát nhà C nói: “Mày đi với tao vô trong chòi của nhà mày, thằng B bị ai đánh trong đó” thì B đồng ý đi. B tự ý lấy xe mô tô, biển số 86B3-373.43, loại xe Exciter, màu xanh trắng (xe của chị gái là Lê Thị Ngọc B, sinh năm 1992, ở thôn 4, xã X) chở Trần Văn C về nhà C lấy một bao tải bên trong đó có 04 con dao tự chế (gồm 01 con dao bằng kim loại, dài 107cm, lưỡi dao màu trắng, dài 79cm, bản dao rộng 5,6cm, sống dao dày 0,3cm, lưỡi dao sắc bén, cán dao tròn, dài 28cm, màu đen, đường kính 2,6cm, mũi dao vát nhọn; 01 con dao bằng kim loại, dài 110cm, lưỡi dao màu trắng, dài 79cm, bản dao rộng 5,6cm, sống dao dày 0,3cm, lưỡi dao cong vênh, sắc bén, mũi dao vát nhọn; 02 con dao giống nhau, mỗi con dao có đặc điểm: dao bằng kim loại, dài 107cm, lưỡi dao màu trắng, dài 72,6cm, bản dao rộng 5,4cm, sống dao dày 0,4cm, lưỡi dao sắc bén, cán dao tròn, dài 31,4cm, màu đen, đường kính 2,6cm, mũi dao vát nhọn) rồi điều khiển xe chở C vác theo bao dao trên vai chạy vào chòi thanh long nhà B để đánh lại những người đã đánh B. Do trên đường đi vào chòi của Lê Văn B chỉ có nhà Tôn Thất A nên khi Trần Văn C và B đi ngang qua đây, thấy trong nhà Tôn Thất A có nhiều người tập trung, Trần Văn C và B xác định đây là nhóm người đã đánh Lê Văn B trước đó nên cả hai dừng xe ở đoạn bờ ao cách khu vực sân nơi nhóm Tôn Thất A đang nhậu khoảng 09 mét. Trần Văn C và B xuống xe, mỗi người cầm 01 con dao trên tay mục đích để đi vào đánh nhóm Tôn Thất A, 02 con dao còn lại thì Trần Văn C vứt xuống đất ngay gần vị trí xe dựng. Lúc này, Tôn Thất A, L, H, A2 và A4 thấy Trần Văn C và B cầm dao đến, nghĩ nhóm B kéo qua đánh lại nên L, H và A4 mỗi người cầm 02 vỏ chai bia Sài Gòn bằng thủy tinh, A2 cầm cục đá (04 x 06)cm và 01 vỏ chai bia đứng dậy, Tôn Thất A hỏi: “Thằng nào đó” thì Trần Văn C trả lời: “Tao, Hí đây”. Lúc này, Tôn Thất A lấy 01 cây đèn pin và lượm 01 cục đá (04 x 06)cm xông vào đánh nhau với Trần Văn C. Trần Văn C cũng cầm dao xông vào chém Tôn Thất A thì bị L, H, A2 và A4 cầm vỏ chai bia ném về phía Trần Văn C và B nhưng không trúng, Tôn Thất A dùng cục đá ném về phía Trần Văn C trúng vào đầu Trần Văn C, A2 cũng dùng cục đá ném trúng vào vùng hàm phải của Trần Văn C. Bị ném đá và vỏ chai bia và nhìn thấy bên Tôn Thất A có đông người xông ra nên B cầm 01 con dao trên tay bỏ chạy ra đường về hướng về chòi thanh long nhà mình, còn Trần Văn C dùng dao chém về phía Tôn Thất A thì trúng vào hai bàn tay của Tôn Thất A gây thương tích. Thấy đánh nhau, Võ Ngọc Tường A4 sợ và bỏ về chòi chăn vịt của mình không tham gia đánh nhau, còn Trần Phúc A3 chỉ đứng trong nhà Tôn Thất A xem, không ném chai bia và cũng không tham gia rượt đánh nhau cùng với nhóm của Tôn Thất A. Thấy bên phía nhóm của Tôn Thất A đông người chiếm ưu thế, Trần Văn C một mình không thể chống đỡ được nên vứt lại con dao gần chỗ xe mô tô, biển số 86B3-373.43 rồi bỏ chạy theo đường đất hướng về chòi của nhà Bình. Do không cầm hung khí theo nên H sau khi ném 02 chai bia về hướng Trần Văn C thì chạy vào kho nhà Tôn Thất A lấy 01 cây rựa, dài khoảng 60cm, cán bằng cây tre, lưỡi bằng kim loại màu đen chạy ra rượt đuổi đánh Trần Văn C; Tôn Thất A, A2 và A4 nhặt mỗi người 01 con dao của Trần Văn C bỏ lại cầm trên tay rồi H, Tôn Thất A, A2, A4 và L cùng nhau rượt đuổi theo Trần Văn C để đánh. Thấy số người trong nhóm của mình ai cũng có hung khí cầm theo nên L chạy quay trở lại vào kho nhà Tôn Thất A tìm hung khí để đánh Trần Văn C. Trần Văn C chạy được khoảng 30 – 50m đến vườn Thanh long của ông Đinhậu Văn Tẻo, sinh năm 1963 ở gần đó thì bị H đuổi kịp dùng rựa chém cái đầu tiên trúng vào lưng làm Trần Văn C té xuống trụ Thanh long, H chém tiếp hai cái nữa trúng vào hai chân của Trần Văn C, Trần Văn C ôm trụ Thanh Long thì bị H túm lôi ra. Cùng lúc này, Tôn Thất A, A2 và A4 cũng đuổi đến và dùng dao chém liên tiếp nhiều cái trúng vào người của Trần Văn C (cẳng tay phải, bàn tay phải, bàn tay trái, bàn chân trái, còn cẳng chân phải của Trần Văn C thì bị A2 dùng sống dao chém) gây thương tích. Bị chém trúng nhiều nhát trên người chảy máu, Trần Văn C van xin và kêu cứu thì B ở trong chòi nghe thấy nên chạy ra, trên đường chạy ra, B gặp Bình, B nói Trần Văn C đang bị chém nên cả B và B chạy về hướng Trần Văn C để đánh nhóm Tôn Thất A giải cứu cho Trần Văn C. Khi còn cách chỗ Trần Văn C khoảng 10m thì do không có hung khí nên B núp ở trụ Thanh long gần đó, còn B cầm 01 con dao chạy đến chỗ Trần Văn C đang bị đánh. Thấy Tôn Thất A đang cầm dao chém Trần Văn C nên B từ phía sau lưng của Tôn Thất A cầm dao bằng hai tay đưa lên chém theo hướng từ trên xuống dưới, lúc này Tôn Thất A nghe tiếng động nên quay người lại thì bị dao chém trúng một cái vào vùng trán phải gây thương tích, A4 nhìn thấy Tôn Thất A bị chém nên chạy tới đỡ Tôn Thất A dậy rồi cầm dao đuổi theo chém Bình, B vứt con dao lại rồi bỏ chạy, A4 đuổi theo không kịp nên quay lại nhặt con dao B vừa vứt lại (Huy cầm 02 con dao tự chế trên tay) đi đến chỗ Tôn Thất A. Lúc này, Trần Văn C và Tôn Thất A đều bị thương, chảy nhiều máu nên Tôn Thất A, H và A2 không chém Trần Văn C nữa, Tôn Thất A nói với H và A2: “Bắt nó về nhà” thì H đi tới nắm áo Trần Văn C kéo đi khoảng 02m thì Trần Văn C tung người thoát được, bỏ chạy về chòi thanh long nhà B. Trong lúc Tôn Thất A, H, A2 và A4 rượt chém Trần Văn C và B thì L tìm kiếm trong nhà kho Tôn Thất A khoảng 02 – 03 phút nhưng không có hung khí nên L chạy ra lại nơi đánh nhau để hỗ trợ Tôn Thất A, H, A2 và A4. L chạy được một đoạn thì gặp Tôn Thất A, H, A2 và A4 đi vào. H dắt xe mô tô, biển số 86B3-373.43 của Trần Văn C và B để lại vào sân trước nhà Tôn Thất A rồi L, H, A2 và A4 dùng dao chém, đập phá xe mô tô trên gây hư hỏng một số bộ phận gồm: tay côn bằng kim loại bên trái; gương chiếu H bên trái; bửng bằng nhựa bên trái, bên phải; đèn xin nhan trước bên trái; mặt nạ trước đầu xe bên trái, bên phải; ốp nhựa sườn bên trái; bọc yên xe bằng vải; dây côn và dây ga. Sau đó, Trần Văn C và Tôn Thất A được gia đìnhậu đưa đi bệnhậu viện cấp cứu, điều trị thương tích. Ngày 18/3/2021, Trần Văn C có đơn đề nghị giám định tỉ lệ thương tật, yêu cầu xử lý hình sự những người gây thương tích cho mình.
Kết luận giám định thương tích số 136/2021/TgT ngày 26/3/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh B Thuận kết luận thương tích của Trần Văn C như sau:
- Vết thương phần mềm vùng đỉnhậu đầu phải đã được điều trị hiện để lại sẹo lành, kích thước: 4,3 x 0,2 cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 1%.
- Vết thương phần mềm vùng hàm phải đã được điều trị hiện để lại sẹo lành, kích thước: 2,5 x 0,8 cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 3%.
- 1/3 dưới mặt sau ngoài cẳng tay phải có 02 vết thương phần mềm đã được điều trị hiện để lại sẹo lành, kích thước:
+ Vết 1: 1,1 x 0,2 cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 1%.
+ Vết 2: 2 x 0,2 cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 1%.
- Vết thương – chấn thương mặt mu bàn tay phải, đứt gân duỗi ngón 2, 3, 4, gãy hở xương bàn 3 tay phải đã được phẫu thuật điều trị hiện ngón II, III, IV hạn chế cử động gấp – duỗi – dạng – khép ngón, để lại sẹo vết thương trùng với sẹo vết mổ, kích thước: 10,5 x 0,3 cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 6% + 3% + 2% + 2% + 2%.
- Vết thương phần mềm mặt lòng ngón I bàn tay trái đã được điều trị hiện để lại sẹo lành, kích thước: 4 x 0,2 cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 1%.
- Vết thương phần mềm mặt mu ngón V bàn tay trái đã được điều trị hiện để lại sẹo lành, kích thước: 2,7 x 0,2 cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 1%.
- Vết thương phần mềm thắt lưng đã được điều trị hiện để lại sẹo lành, kích thước: 2,2 x 1,9 cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 2%.
- Vết thương – chấn thương mặt trong mu bàn chân trái, gãy xương chêm đã được phẫu thuật điều trị hiện cal xương chưa ổn định, các ngón bàn chân trái không cử động gấp, duỗi ngón được, để lại vết mổ + vết thương chưa lành, kích thước: 8 x 0,2 cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 11% + 2%.
- Sây sát da 1/3 dưới mặt ngoài cẳng chân phải đã được điều trị hiện để lại sẹo lành, kích thước: 10 x 0,5 cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 3%.
- Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 34% (Ba bốn phần trăm).
- Vết thương phần mềm vùng đỉnhậu đầu phải, vết thương phần mềm vùng hàm phải do vật tày có cạnhậu gây ra.
- Vết sây xát 1/3 dưới mặt ngoài cẳng chân phải do vật tày gây ra.
- Các vết thương: 02 vết thương phần mềm 1/3 dưới mặt sau ngoài cẳng tay phải; Vết thương mặt mu bàn tay phải; Vết thương phần mềm mặt lòng ngón I bàn tay trái; Vết thương phần mềm mặt mu ngón V bàn tay trái; Vết thương phần mềm vùng thắt lưng; Vết thương mặt trong mu bàn chân trái do vật sắc gây ra.
- Vết thương vùng đỉnhậu đầu phải có chiều hướng tác động từ trên xuống dưới; Vết thương vùng hàm phải có chiều hướng tác động từ phải sang trái; Vết thương vùng thắt lưng có chiều hướng tác động từ sau ra trước; Các vết thương cẳng – bàn tay phải, bàn tay trái, bàn chân trái, sây sát da cẳng chân phải có chiều hướng tác động theo tư thế cơ năng của cơ thể với vật gây thương./.
Kết luận giám định thương tích số 170/2021/TgT ngày 17/5/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh B Thuận kết luận thương tích của Tôn Thất A như sau:
- Vết thương – chấn thương vùng trán phải, nứt xương sọ vùng trán đã được điều trị hiện ổn định, để lại sẹo lành, kích thước: 3,5 x 0,2 cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 10% + 3%.
- Vết thương phần mềm mặt mu đốt xa ngón III bàn tay trái đã được điều trị hiện để lại sẹo lành, kích thước: 2 x 0,1 cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 1%.
- Vết thương phần mềm mặt mu đốt xa ngón IV bàn tay trái đã được điều trị hiện mất móng, để lại sẹo lành, kích thước: 2 x 0,6 cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 2%.
- Vết thương phần mềm mặt mu bên ngoài bàn tay phải đã được điều trị hiện để lại sẹo lành, kích thước: 1,5 x 0,2 cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 1%.
- Tổng tỷ lệ tổn thương có thể do thương tích gây nên hiện tại là: 16% (Một sáu phần trăm).
- Các vết thương do vật sắc gây ra.
- Vết thương – chấn thương vùng trán phải có chiều hướng tác động từ trước ra sau; Vết thương bàn tay phải – trái có chiều hướng tác động theo tư thế cơ năng của cơ thể với vật gây thương./.
Kết luận giám định số 55/2021/HĐĐGTT ngày 12/7/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Huyện Y kết luận:
Tài sản đề nghị định giá là một số phụ tùng bị hư hỏng xe mô tô:
- 01 xe mô tô, biển số: 86B3-373.43. Nhãn hiệu YAMAHA, số loại EXCITER. Xe mua vào năm 2015. Số máy: 55P1-481102. Số khung: RLCE55P10EY.
* Một số phụ tùng xe bị hư hỏng, thiệt hại như sau:
- Tay côn, bằng kim loại bên trái bị gãy, hư hỏng hoàn toàn. Trị giá tại thời điểm xảy ra vụ án là 84.000đ. Trị giá sử dụng còn lại 65%. Thành tiền: 84.000đ x 65% = 54.600đ.
- Gương chiếu H bên trái bị vỡ, hư hỏng hoàn toàn. Trị giá tại thời điểm xảy ra vụ án là 51.000đ. Trị giá sử dụng còn lại 65%. Thành tiền: 51.000đ x 65% = 33.150đ.
- Bừng xe trái, phải và 03 con tem mỗi bên bị vỡ, hư hỏng hoàn toàn. Trị giá tại thời điểm xảy ra vụ án là 828.000đ. Trị giá sử dụng còn lại 65%. Thành tiền: 828.000đ x 65% = 538.200đ.
- Đèn xi nhan trước (trái) bị vỡ, hư hỏng hoàn toàn. Trị giá tại thời điểm xảy ra vụ án là 146.000đ. Trị giá sử dụng còn lại 65%. Thành tiền: 146.000đ x 65% = 94.900đ.
- Mặt nạ trước đầu xe và 05 tem xe bị nứt, hư hỏng. Trị giá tại thời điểm xảy ra vụ án là 302.000đ. Trị giá sử dụng còn lại 65%. Thành tiền: 302.000đ x 65% = 196.300đ.
- Ốp nhựa sườn bên trái và 03 tem bị vỡ, hư hỏng hoàn toàn. Trị giá tại thời điểm xảy ra vụ án là 334.000đ . Trị giá sử dụng còn lại 65%. Thành tiền: 334.000đ x 65% = 217.100đ.
- Bọc yên xe bị rách, hư hỏng. Trị giá tại thời điểm xảy ra vụ án là 186.000đ. Trị giá sử dụng còn lại 65%. Thành tiền: 186.000đ x 65% = 120.900đ.
- Dây ga, dây côn bị đứt, hư hỏng. Trị giá tại thời điểm xảy ra vụ án là 346.000đ. Trị giá sử dụng còn lại 65%. Thành tiền: 346.000đ x 65% = 224.900đ.
Tổng trị giá tài sản định giá là 1.480.050đ (Một triệu, bốn trăm tám mươi ngàn, không trăm năm mươi đồng).
Vật chứng vụ án thu giữ và xử lý:
- 04 con dao tự chế. Cụ thể như sau:
+ 01 con dao bằng kim loại, dài 107cm; lưỡi dao màu trắng, dài 79cm, bản dao rộng 5,6cm, sống dao dày 0,3cm, lưỡi dao sắc bén; cán dao tròn, dài 28cm, màu đen, đường kính 2,6cm; mũi dao vát nhọn.
+ 01 con dao bằng kim loại, dài 110cm; lưỡi dao màu trắng, dài 79cm, bản dao rộng 5,6cm, sống dao dầy 0,3cm, lưỡi dao cong vênh, sắc bén; mũi dao vát nhọn.
+ 02 con dao giống nhau, mỗi con dao có đặc điểm: dao bằng kim loại, dài 107cm; lưỡi dao màu trắng, dài 72,6cm, bản dao rộng 5,4cm, sống dao dầy 0,4cm, lưỡi dao sắc bén; cán dao tròn, dài 31,4cm, màu đen, đường kính 2,6cm; mũi dao vát nhọn.
Toàn bộ số vật chứng là 04 con dao trên, Viện kiểm sát nhân dân Huyện Y ra Quyết định chuyển vật chứng, chuyển từ Cơ quan Cảnhậu sát điều tra Công an Huyện Y đến Chi cục thi hành án dân sự Huyện Y bảo quản, chờ xử lý.
- 01 ống tuýp bằng kim loại màu trắng dài 1,5m, đường kính 2,5cm do Lê Văn B tự nguyện giao nộp.
- 01 xe mô tô, biển số 86B3-373.43, nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter, màu xanh trắng, số khung RLCE55P10EY481087, số máy 55P1-481102 bị hư hỏng một số bộ phận của Lê Thị Ngọc Bích, sinh năm 1992, ở thôn 4, xã X.
Sau khi tạm giữ và làm rõ, Cơ quan Cảnhậu sát điều tra Công an Huyện Y ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho Lê Văn B và Lê Thị Ngọc Bích là chủ sở hữu do không liên quan đến việc phạm tội.
- 01 cây rựa, dài khoảng 60cm, cán bằng cây tre, lưỡi bằng kim loại màu đen mà Ngô Văn H sử dụng chém Trần Văn C, Cơ quan Cảnhậu sát điều tra Công an Huyện Y đã truy tìm nhưng không thu giữ được.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 58/2022/HS-ST ngày 13 tháng 5 năm 2022 Tòa án nhân dân Huyện Y
Tòa án nhân dân Huyện Y đã quyết định:
Căn cứ vào Điểm c Khoản 3 Điều 134; Điều 17; Điều 58; Điểm b, s Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình Sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 áp dụng đối với các bị cáo Tôn Thất A, Ngô Văn H, Nguyễn Hải A4, Nguyễn Thanh A2 và Nguyễn Thế L. Riêng bị cáo Nguyễn Hải A4, bị cáo Nguyễn Thanh A2 căn cứ thêm Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình Sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Bị cáo Nguyễn Thế L căn cứ thêm Khoản 1 Điều 65 Bộ luật Hình Sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Căn cứ vào Điểm đ Khoản 2 Điều 134; Điều 17; Điều 58; Điểm b, s Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình Sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 áp dụng đối với các bị cáo Lê Văn B, Lê Văn B và Trần Văn C. Riêng bị cáo Trần Văn C căn cứ thêm Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình Sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
1. Tuyên bố: Các bị cáo Tôn Thất A (tên gọi khác Út), Ngô Văn H (tên gọi khác Trọc), Nguyễn Hải A4, Nguyễn Thanh A2 (tên gọi khác Rượu) , Nguyễn Thế L, Lê Văn B (tên gọi khác Thượng), Lê Văn B (tên gọi khác Chàm) và Trần Văn C (tên gọi khác Hí) phạm tội “ Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Tôn Thất A 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tínhậu từ ngày 20/7/2021.
Xử phạt: Ngô Văn H 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tínhậu từ ngày 20/7/2021.
Xử phạt: Nguyễn Hải A4 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tínhậu từ ngày bắt thi hành án.
Xử phạt: Nguyễn Thanh A2 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tínhậu từ ngày 20/7/2021.
Xử phạt: Nguyễn Thế L 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo.Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tínhậu từ ngày tuyên án sơ thẩm (13/5/2022).
Giao bị cáo Nguyễn Thế L cho Ủy ban nhân dân xã X, Huyện Y, tỉnh B Thuận giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Trần Văn C 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tínhậu từ ngày bắt thi hành án.
Xử phạt: Lê Văn B 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tínhậu từ ngày bắt thi hành án.
Xử phạt: Lê Văn B 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tínhậu từ ngày bắt thi hành án.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 587, Điều 589, Điều 590, Điều 357 Bộ luật dân sự 2015.
Công nhận sự thỏa thuận bồi thường thiệt hại giữa các bị cáo và chị Lê Thị Ngọc Bích như sau:
- Tôn Thất A phải bồi thường cho Trần Văn C số tiền 20.000.000 đồng. Tôn Thất A đã bồi thường 10.000.000đồng theo các Biên lai thu tiền số 0003217, 0003219 và 0003222 ngày 25/4/2022, 28/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Y. Số tiền còn lại 10.000.000đồng (mười triệu đồng) Tôn Thất A phải tiếp tục bồi thường cho Trần Văn C.
- Nguyễn Hải A4 phải bồi thường cho Trần Văn C số tiền 15.000.000đồng, Nguyễn Thanh A2 phải bồi thường cho Trần Văn C số tiền 20.000.000 đồng. Nguyễn Hải A4 và Nguyễn Thanh A2 đã bồi thường và Trần Văn C đã nhận đủ số tiền trên nên không phải bồi thường nữa.
- Ngô Văn H và Nguyễn Thế L phải bồi thường cho Trần Văn C số tiền 20.000.000 đồng. Ngô Văn H và Nguyễn Thế L đã bồi thường đủ số tiền 20.000.000 đồng theo các Biên lai thu tiền số 0003218, 0003221 và 0003215 ngày 25/4/2022, 28/4/2022 và ngày 22/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Y, nên không phải bồi thường nữa.
- Trần Văn C và Lê Văn Bình, mỗi người phải bồi thường cho Tôn Thất A số tiền 14.500.000 đồng. Trần Văn C đã bồi thường số tiền 5.000.000 đồng và Lê Văn B đã bồi thường số tiền 1.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0003133, 0003227 ngày 09/3/2022 và 04/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Y. Số tiền còn lại đối với Trần Văn C là 9.500.000 đồng (chín triệu năm trăm ngàn đồng) và đối với Lê Văn B là 13.500.000 đồng (mười ba triệu năm trăm ngàn đồng) các bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho Tôn Thất A.
- Lê Văn B phải bồi thường cho Tôn Thất A số tiền 1.000.000đồng. Lê Văn B đã bồi thường đủ số tiền 1.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0003226 ngày 04/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Y, nên không phải bồi thường nữa.
- Ngô Văn H, Nguyễn Hải A4, Nguyễn Thanh A2, Nguyễn Thế L, mỗi bị cáo phải bồi thường cho chị Lê Thị Ngọc Bích số tiền 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm ngàn đồng).
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy địnhậu khác.
Ngày 25/5/2022, bị cáo Trần Văn C làm đơn kháng cáo Bản án hình sự sơ thẩm số 58/2022/HS-ST, ngày 13 tháng 5 năm 2022 của Tòa án nhân dân Huyện Y, đề nghị:
-
Xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, vì hoàn cảnhậu gia đìnhậu bị cáo rất khó khăn, bị cáo là lao động chínhậu trong gia đình, vợ bị mất việc làm, phải nuôi hai con nhỏ, từ khi bị đánh đến nay sức khỏe của bị cáo rất yếu, nên bị cáo xin được án treo để ở nhà chăm sóc con và giúp vợ kiếm việc làm nuôi sống.
-
Xét xử các bị cáo Tôn Thất A, Ngô Văn H, Nguyễn Thế L một mức án nghiêm khắc, không cho bị cáo Nguyễn Thế L hưởng án treo.
Ngày 01 tháng 6 năm 2022, bị cáo Ngô Văn H nộp 2.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Y theo Biên lai thu tiền số 0003254.
Ngày 01 tháng 6 năm 2022, bị cáo Nguyễn Thế L nộp 2.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Y theo Biên lai thu tiền số 0003255.
Ngày 14 tháng 7 năm 2022 và ngày 11/8/2022, bị cáo Tôn Thất A nộp 700.000 đồng và 3.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Y theo Biên lai thu tiền số 0003298 và số 0003347.
Tại phiên t a phúc thẩm:
- Bị cáo Trần Văn C vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Luật sư bào chữa cho bị cáo Trần Văn C phát biểu ý kiến về vụ án và đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn C áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 58/2022/HS-ST ngày 13 tháng 5 năm 2022 Tòa án nhân dân Huyện Y: Giảm hình phạt và cho bị cáo Trần Văn C hưởng án treo; tăng hình phạt đối với các bị cáo Tôn Thất A, Ngô Văn H, không cho bị cáo Nguyễn Thế L hưởng án treo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B Thuận phát biểu ý kiến và đề nghị hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị cáo Trần Văn C; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 58/2022/HS-ST ngày 13 tháng 5 năm 2022 Tòa án Huyện Y tăng hình phạt đối với các bị cáo Tôn Thất A, Ngô Văn H, Nguyễn Thế L, không cho bị cáo Nguyễn Thế L hưởng án treo. Giữ nguyên mức hình phạt đối với Trần Văn C.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranhậu tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Trần Văn C thừa nhận hành vi phạm tội như Tòa án cấp sơ thẩm đã quy kết về tội “ Cố ý gây thương tích” là đúng không oan.
Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Trần Văn C;
Hội đồng xét xử xét thấy:
Tối ngày 10/02/2021, khi được Lê Văn B (Thượng) gọi điện thoại đi đánh nhóm Tôn Thất A. Đáng lẽ ra bị cáo Trần Văn C phải hỏi đầu đuôi cậu chuyện và can ngăn Lê Văn B; nhưng bị cáo Trần Văn C đã không làm như vậy mà đồng ý và rủ thêm Lê Văn B (Chàm) rồi chuẩn bị hung khí là 04 con dao tự tạo và cùng với Bình, B đến nhà Tôn Thất A đánh nhau với nhóm của bị cáo Tôn Thất A. Do nhóm bị cáo Tôn Thất A đông, nên sau khi chém Tôn Thất A thì bị cáo Trần Văn C đã bỏ chạy và bỏ lại hung khí; thì nhóm của bị cáo Tôn Thất A đã dùng những con dao của Trần Văn C bỏ lại để đánh chém Trần Văn C sau đó.
Như vậy, chínhậu vì hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo Trần Văn C đã cầm dao đến nhà Tôn Thất A đánh nhau với nhóm Tôn Thất A nên mới xảy ra vụ án. Hơn nữa, giữa bị cáo Trần Văn C với nhóm của bị cáo Tôn Thất A không mâu thuẫn nhau. Nhưng chỉ vì nghe lời của Lê Văn B mà bị cáo Trần Văn C đã rủ rê lôi kéo bị cáo khác cùng phạm tội và chínhậu bị cáo là người phạm tội một cách tích cực từ việc chuẩn bị hung khí rồi đi tìm đánh nhóm Tôn Thất A.
[1.3] Bị cáo Trần Văn C phạm tội theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt từ 02 năm đến 06 năm tù. Nhưng Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để xử bị cáo 09 tháng tù là nhẹ, chưa tương xứng với tínhậu chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Do đó, kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Trần Văn C không có căn cứ để hội đồng xét xử chấp nhận.
Bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Trần Văn C được giữ nguyên như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B Thuận tại phiên tòa phúc thẩm.
[2 ] Xét kháng cáo của bị cáo Trần Văn C đề nghị tăng hình phạt đối với các bị cáo Tôn Thất A, Ngô Văn H.
Hội đồng xét xử xét thấy:
Như đã phân tích ở trên, do bị cáo Trần Văn C là người chủ động chuẩn bị hung khí và rủ rê, lôi kéo bị cáo Lê Văn B (Chàm) đến nhà bị cáo Tôn Thất A phạm tội và do các bị cáo Tôn Thất A, Ngô Văn H có nhiều tínhậu tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự và xử các bị cáo Tôn Thất A, Ngô Văn H dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là có căn cứ.
Tuy nhiên, sau khi bị cáo Trần Văn C bỏ chạy thì các bị cáo Ngô Văn H và Tôn Thất A là người thực hiện hành vi phạm tội một cách quyết liệt, đã dùng dao chém nhiều cái vào người bị cáo Trần Văn C, khi đó bị cáo Trần Văn C không còn hung khí trên tay; H quả cho Trần Văn C bị thương tích 34 %. Các bị cáo đều phạm tội theo quy định tại khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt từ 5 năm đến 10 năm tù.
Nhưng Tòa án cấp sơ thẩm xử Tôn Thất A 02 năm 06 tháng tù; Ngô Văn H 02 năm 03 tháng tù là nhẹ, chưa tương xứng với tínhậu chất, mức độ của hành vi phạm tội của các bị cáo.
Do đó, kháng cáo của bị cáo Trần Văn C, đề nghị của Luật sư và của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B Thuận tại phiên tòa phúc thẩm đề nghị tăng hình phạt đối với các bị cáo Tôn Thất A, Ngô Văn H là có căn cứ để hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét kháng cáo của bị cáo Trần Văn C đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thế L và không cho bị cáo Nguyễn Thế L hưởng án treo; hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
Đối với bị cáo Nguyễn Thế L không tham gia đánh chém Trần Văn C, mà chỉ cầm vỏ chai bia ném về phía nhóm bị cáo Trần Văn C khi nhóm bị cáo Trần Văn C đến nhà Tôn Thất A; bị cáo Nguyễn Thế L không gây thương tích cho ai, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thế L hạn chế và thứ yếu.
Tòa án cấp sơ thẩm xử Nguyễn Thế L 02 năm tù và cho bị cáo Nguyễn Thế L hưởng án treo là có căn cứ.
Do đó, kháng cáo đề nghị tăng hình phạt và không cho bị cáo Nguyễn Thế L hưởng án treo của bị cáo Trần Văn C và của Luật sư tại phiên tòa phúc thẩm là không có căn cứ, nên không được chấp nhận.
Bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thế L được giữ nguyên.
Do kháng cáo được chấp nhận một phần và do án sơ thẩm bị sửa, nên bị cáo Trần Văn C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm các bị cáo Tôn Thất A, Ngô Văn H, Nguyễn Thế L đã nộp một số tiền tại Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Y, tiếp tục tạm giữ để bảo đảm việc thi hành án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm a khoản 2 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị cáo Trần Văn C, sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 58/2022/HS-ST ngày 13 tháng 5 năm 2022 của Tòa án nhân dân Huyện Y về mức hình phạt đối với bị cáo Tôn Thất A và Ngô Văn H.
Tuyên bố: Các bị cáo: Tôn Thất A, Ngô Văn H, Nguyễn Thế L và Trần Văn C đều phạm tội “ Cố ý gây thương tích”.
1. Căn cứ : Điểm c khoản 3 Điều 134, Điều 17, Điều 58, Điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự áp dụng đối với các bị cáo Tôn Thất A, Ngô Văn H và Nguyễn Thế L; Riêng bị cáo Nguyễn Thế L áp dụng thêm khoản 1 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt: Tôn Thất A 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tínhậu từ ngày 20/7/2021.
- Xử phạt: Ngô Văn H 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tínhậu từ ngày 20/7/2021.
- Xử phạt: Nguyễn Thế L 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tínhậu từ ngày tuyên án sơ thẩm (13/5/2022).
Giao bị cáo Nguyễn Thế L cho Ủy ban nhân dân xã X, Huyện Y, tỉnh B Thuận giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
2. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, Điều 17, Điều 58, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự
Xử phạt: Bị cáo Trần Văn C 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tínhậu từ ngày đi thi hành án.
3. Bị cáo Trần Văn C không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các phần khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
5. Tiếp tục tạm giữ của bị cáo Tôn Thất A 3.700.000 đồng theo các Biên lai thu tiền số 0003298, ngày 14 tháng 7 năm 2022 và số 0003347, ngày 11/8/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Y để bảo đảm việc thi hành án.
Tiếp tục tạm giữ của bị cáo Ngô Văn H 2.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0003254 ngày 01 tháng 6 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Y để bảo đảm việc thi hành án.
Tiếp tục tạm giữ của bị cáo Nguyễn Thế L 2.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0003255 ngày 01 tháng 6 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Y để bảo đảm việc thi hành án.
Án xử phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 22-8-2022
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh B Thuận; - TA (02), VKS, CA A; - Sở tư pháp tỉnh B Thuận; - Phòng PV 06 Công an tỉnh B Thuận; - Những người tham gia tố tụng; - UBND xã X, A; - Tổ HCTP – Tòa án tỉnh; - Lưu: THS, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký) Đặng Văn Cường |